***************************************
Ngày soạn :..../.../20.....
Ngày dạy :..../.../20.....
Tập đọc lớp 5: Hành trình của bầy ong
Hành trình của bầy ong
Với đôi cánh đẫm nắng trời
Chuyên đề hình học - lớp 3
Bài 1: Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài là 24 m và chiều rộng bằng chiều dài. Một hình vuông có cạnh bằng chiều dài của hình chữ nhật. Tính chu vi và diện tích hình chữ nhật?
Bài 2: Một hình chữ nhật có chu vi là 94 cm. Nếu giảm chiều dài đi 9 cm thì diện tích bị giảm đi 180 cm2. Tính chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật ban đầu?
Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán lớp 5: Các bài toán về phép chia có dư đưa ra lý thuyết và bài tập ví dụ kèm theo để các em học sinh ôn tập và củng cố kiến thức của mình, từ đó có cách làm bài hiệu quả nhất về dạng bài tập chia có dư nâng cao.
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG TOÁN LỚP 5
CÁC BÀI TOÁN VỀ PHÉP CHIA CÓ DƯ
§1. Dãy số có giới hạn 0:
* Định nghĩa: thì ïun ê< e
* Một số dãy có giới hạn 0:
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO…
ĐỀ THI HỌC KÌ 2
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
KIỂM TRA 1 TIẾT NĂM HỌC 2018 - 2019
MÔN TIẾNG ANH LỚP 10
I. Choose the word whose underlined part is pronounced differently from the others: (1M)
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ CHÍNH THỨC
QUẢNG NAM
TRƯỜNG TIỂU ……………. MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ 1
KHỐI: 4 NĂM HỌC: 2018 - 2019

Họ và tên :........................................................ Lớp : 12............ Điểm :..............Mã đề: 101
I. PHẦN TRẮC NGHIỆM: 7 điểm ( Hãy khoanh tròn vào đáp án đúng )
Câu 1: Để bảo vệ vỏ tàu biển bằng sắt người ta có thể dùng kim loại nào sau đây:
ĐỀ ÔN TẬP KIỀM TRA CUỐI HỌC KỲ II-ĐỀ 1
Môn: TOÁN 10 - CÁNH DIỀU
Thời gian làm bài: 90 phút, không tính thời gian phát đề
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT TIẾNG ANH 8 LẦN 1
2020 - 2021 CÓ ĐÁP ÁN
I. Bài kiểm tra số 1 tiếng Anh 8 thí điểm có đáp án
PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH MÔN TOÁN LỚP 7
Năm học: 2022 – 2023
SỐ, ĐẠI SỐ, THỐNG KÊ VÀ XÁC SUẤT ( 86 tiết )
ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT TIẾNG ANH 6
LẦN 1 CÓ ĐÁP ÁN
Trường THCS Phạm Hồng Thái
Phân tích bài thơ Vội Vàng - Mẫu 1
Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì! Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùa xuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.
Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốn quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình. Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao diệu kỳ. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy. Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” đi cùng chính luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại thơ xúc cảm. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian.