TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÝ TỰ TRỌNG
TỔ NGỮ VĂN

BỘ ĐỀ ÔN TẬP HKII CHO HS LỚP 12
ĐỀ 1
I. ĐỌC- HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ… Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn có nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, tắt đi, và cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc và dài, cần được trao đổi, thảo luận rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, trong đó phải nói thật có nhiều sinh hoạt rất hình thức, ồn ào và vô bổ, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình, tạo trở lại thói quen đọc sách cho từng người, cho toàn xã hội, trước hết trong thanh niên. Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong một năm đọc được lấy một cuốn sách. Có thể cứ đọc sách gì cũng được, để cho người ta trở lại thấy việc cầm đọc một cuốn sách không phải là việc quá xa lạ. Rồi dần dần sẽ nói đến chuyện chọn sách, cách đọc sách... Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó, việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc – Tạp chí tia sáng)
Câu 1 ( 0.5 điểm) Nêu phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm) Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”.
Câu 3 (0.75 điểm) Theo anh/ chị việc nhỏ và công cuộc lớn tác giả đề cập đến trong đoạn văn là gì?
Câu 4 ( 1.0 điểm) Nêu thông điệp tác giả gửi gắm qua đoạn trích.
II. LÀM VĂN ( 7.0 điểm)
Câu 1 ( 2.0 điểm)
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu lên trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ”.
Câu 2 ( 5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng cây xà nu trong đoạn văn sau:
Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão.Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn.
Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người, lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng…
Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời. (SGK Ngữ văn 12 –NXB GD 2008- tr 38)
ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU ( 3.0 điểm)
Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
(1) Hiện nay, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng còn nhiều bất cập.(2) Nguy cơ thất truyền, mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể và sự xuống cấp của các di tích lịch sử vẫn còn ở mức báo động; việc phát huy giá trị các lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế, hiện tượng thương mại hóa trong lễ hội chưa được ngăn chặn một cách hiệu quả; sự hạn hẹp về kinh phí để bổ sung hiện vật cho bảo tàng; nạn trộm cắp buôn bán cổ vật vẫn diễn ra phức tạp; tình trạng lấn chiếm di tích, danh lam thắng cảnh; hiện tượng xây dựng trái phép, tu bổ di tích sai nguyên tắc chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời...
(Giáo dục ý thức bảo vệ di sản văn hóa cho thế hệ trẻ - Nguyễn Bá Khiêm)
Câu 1 ( 0.5 điểm) Hãy ghi lại câu văn nêu chủ đề của đoạn trích.
Câu 2 (0.75 điểm) Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào?
Câu 3 ( 0.75 điểm)  Hãy tìm thành phần phụ trong câu văn số (1) và gọi tên thành phần đó.
Câu 4 (1.0 điểm)  Tác giả bài viết bộc lộ thái độ và tâm trạng gì trước vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của nước ta?
II. LÀM VĂN
Câu 1 ( 2.0 điểm)
Từ thực trạng công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được nêu lên ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) đưa ra các giải pháp hiệu quả cho vấn đề trên.
Câu 2 (5.0 điểm)
Về hình tượng Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, có ý kiến cho rằng: Tnú điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Tnú điển hình cho con đường đấu tranh cách mạng của người làng Xô Man.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên và nêu ý kiến đánh giá về hình tượng Tnú.
ĐỀ 3
I. ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm)
 Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
(1) “Ai có thể đếm được đã bao năm tháng, bao đời người đã đi qua mà cái Tết về đại thể vẫn là một? Tết gia đình. Tết dân tộc. Tết đậm đà phong vị cộng đồng, quãng giải lao giữa hai chặng đường vất vả, gian nan.
(2) Vẫn là ngày hăm ba cúng ông Táo, đêm ba mươi cúng tất niên, hái cành lộc. Vẫn là ngày mồng một he hé cửa đón đợi người xông nhà, dặn dò nhau ý tứ giữ gìn kiêng cữ cho khỏi dông cả năm dài. Ngày đầu xuân, cơm nguội không rang để cho đời khỏi khô kháo, nhà không quét cho tài lộc khỏi thất tán. Vẫn là mùi hương hoa ngan ngát nơi bàn thờ ấy. Vẫn là làn không khí mới mẻ, hơi bỡ ngỡ, trịnh trọng ấy. Vẫn những gương mặt cởi mở, chan hoà giữa khung cảnh trời đất tươi đẹp vì được niềm phấn chấn của con người thâm nhập giao hoà.”
( Trích Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng)
Câu 1 ( 0.75 điểm)  Đoạn văn bản trên khẳng định điều gì?
Câu 2 (1.0 điểm) Biện pháp nghệ thuật được sử dụng nhiều nhất trong văn bản trên là gì? Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
Câu 3 ( 0.75 điểm) Cụm từ hai chặng đường vất vả, gian nan ở (1) là để chỉ điều gì?
Câu 4 ( 0.5 điểm) Đặt tiêu đề cho văn bản trên.
II.LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 ( 2.0 điểm)
 Trong một buổi toạ đàm của Bộ VH-TT và Du lịch với chủ đề: “Giáo dục với việc hình thành nhân cách, đạo đức con người, văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá”diễn ra ngày 22/1/2014 tại Hà Nội, nhà giáo Nguyễn Quang Kính ( nguyên chánh văn phòng Bộ GD&ĐT) cho rằng: “ Nói dối tràn lan đang trở thành một vấn nạn của xã hội Việt Nam”.
Anh / chị hãy trình bày suy nghĩ của mình dưới hình thức đoạn văn (khoảng 200 chữ) về vấn nạn trên.
Câu 2 ( 5 .0 điểm) 
Phân tích hai  phát  hiện của nhân vật  Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
ĐỀ 4
I. ĐỌC – HIỂU ( 3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Việt Nam đất nước ta ơi 
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn 
Cánh cò bay lả rập rờn 
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều 
Quê hương biết mấy thân yêu 
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau 
Mặt người vất vả in sâu 
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn 
Đất nghèo nuôi những anh hùng 
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên 
Đạp quân thù xuống đất đen 
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa 
Việt Nam đất nắng chan hoà 
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh 
Mắt đen cô gái long lanh 
Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung
(Trích Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi, dẫn theo Trần Đăng Khoa, Chân dung và đối thoại, NXB Thanh niên, 1999)
Câu 1 (0.75 điểm) Xác định và nêu tác dụng của thể thơ được tác giả sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm) Trong bốn dòng thơ đầu, tác giả đã chọn những hình ảnh nào để tái hiện khung cảnh đất nước Việt Nam? Anh/chị có đồng tình với sự lựa chọn này của tác giả không? Vì sao?
Câu 3 (0.5 điểm) Đoạn thơ đã thể hiện những tình cảm gì của tác giả với quê hương, đất nước?
Câu 4 (1.0 điểm) Đọc đoạn thơ, anh/chị cảm nhận được những vẻ đẹp gì của nhân dân, đất nước? Viết cảm nhận dưới hình thức đoạn văn 4-7 câu.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về phương châm hành động: “Nói không với hành vi bạo lực và tệ nạn xã hội” của học sinh hiện nay.
Câu 2 (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng trong tâm hồn người phụ nữ ở truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
ĐỀ 5
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Trái tim hoàn hảo
Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có một tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!. Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế. Chàng trai cười nói:
- Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt.
- Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè... Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.
Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh...
(Tác giả: Khuyết Danh )
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2 ( 0.5 điểm) Anh/Chị hiểu thế nào về câu nói sau: “Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra.”
Câu 3 (1.0 điểm) Theo anh/chị, vì sao tác giả cho rằng: “Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại.”
Câu 4 ( 1.0 điểm) Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về câu: “Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh…”
Câu 2 ( 5.0 điểm)
Phân tích bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba trong tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.

ĐỀ 6
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
Trước khi các em nghĩ đến chuyện bay cao bay xa, hãy tập làm bất cứ thứ gì, có thể cả những thứ chẳng có ý nghĩa gì chứ không phải chỉ là những điều các em thích hay cho là quan trọng. Đừng bực bội vì những việc mà các em không tin tưởng, vì như thế các em sẽ cảm thấy nhàm chán chính bản thân mình, cũng đừng đem bản thân so sánh một cách lệch lạc với những người như Baltimore Orioles. Hãy giết chết cảm giác tự mãn và dễ dàng thoả hiệp, cảm giác mọi thứ dường như đều có lí hay cảm giác tự bằng lòng trong trạng thái tinh thần u mê. Hãy làm cho bản thân xứng đáng với những gì mà các em đang cố gắng. Và hãy đọc, đọc mọi lúc, đọc như một nguyên tắc của bản thân và như một cách để tôn trọng chính mình. Coi việc đọc như nguồn sống của cuộc đời. Hãy phát triển và bảo vệ một giá trị đạo đức bằng cách đưa ra các lập luận để chấp nhận nó. Hãy mơ những giấc mơ vĩ đại. Hãy làm việc cật lực. Hãy nghĩ cho bản thân mình. Hãy yêu tất cả những thứ các em thích và những người các em cảm mến bằng tất cả tấm lòng của mình. Và hãy làm tất cả những điều đó, như thể các em đang bị thúc giục, mỗi giây mỗi phút, từng chút một. Hãy tin bữa tiệc nào rồi cũng tàn nhưng các em đừng bao giờ tham gia vào một cuộc vui khi đã đến lúc tàn, cho dù buổi chiều hôm nay có rực rỡ đến thế nào.
(Trích Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường trung học Wellesley – David McCullough, theo http://www.ehapu.edu.vn, ngày 5/6/2012)
Câu 1. (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. (0.5 điểm) Ghi lại câu văn nêu ý khái quát của văn bản.
Câu 3. (1.0 điểm) Văn bản trên sử dụng chủ yếu kiểu câu nào? Nêu tác dụng của kiểu câu đó trong việc thể hiện nội dung của văn bản.
Câu 4. (1.0 điểm) Anh/ chị hiểu như thế nào về câu:“Coi việc đọc như nguồn sống của cuộc đời.”?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Từ ngữ liệu ở phần đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về câu yêu cầu của tác giả:“Hãy nghĩ cho bản thân mình.”
Câu 2. (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn“Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2011).
ĐỀ 7
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
Bản lĩnh là khi bạn dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt. Muốn có bản lĩnh bạn cũng phải kiên trì luyện tập. Chúng ta thường yêu thích những người có bản lĩnh sống. Bản lĩnh đúng nghĩa chỉ có được khi bạn biết đặt ra mục tiêu và phương pháp để đạt được mục tiêu đó. Nếu không có phương pháp thì cũng giống như bạn đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà.
Cách thức ở đây cũng rất đơn giản. Đầu tiên, bạn phải xác định được hoàn cảnh và môi trường để bản lĩnh được thể hiện đúng lúc, đúng nơi, không tùy tiện. Thứ hai bạn phải chuẩn bị cho mình những tài sản bổ trợ như sự tự tin, ý chí, nghị lực, quyết tâm... Điều thứ ba vô cùng quan trọng chính là khả năng của bạn. Đó là những kỹ năng đã được trau dồi cùng với vốn tri thức, trải nghiệm. Một người mạnh hay yếu quan trọng là tùy thuộc vào yếu tố này.
Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh. Khi xây dựng được bản lĩnh, bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều người thừa nhận và yêu mến hơn.
(Trích Xây dựng bản lĩnh cá nhân – Phương Mai, Tuoitre.vn)
Câu 1. (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?
Câu 2. (0.5 điểm) Theo tác giả, thế nào là bản lĩnh?
Câu 3. (1.0 điểm) Anh/Chị đồng tình hay không đồng tình với ý kiến: Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh của tác giả? Giải thích ngắn gọn lí do đồng tình hay không đồng tình với ý kiến.
Câu 4. (1.0 điểm) Theo anh/chị, cần làm gì để rèn luyện bản lĩnh sống?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến: Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với mọi khó khăn thử thách.
Câu 2. (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích sau:
… Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mi cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần. 
Thường khi đến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn. Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại thức sưởi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.
Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chùng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi... Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ... Mị phảng phất nghĩ như vậy. 
Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình. Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ...
Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại... Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay...”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.
Mị đứng lặng trong bóng tối.
Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: 
- A Phủ cho tôi đi.
A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: 
- Ở đây thì chết mất.
A Phủ chợt hiểu. 
Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.
A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi…
  (Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ Văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2016, tr. 13 - 14)

onthicaptoc.com Đề thi thử học kì 2 môn Văn lớp 12 THPT chuyên Lý Tự Trọng năm 2020 2021

Xem thêm
TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI NGUYÊN HÀM
Câu 1: Cho hàm số và . Các mệnh đề sau đúng hay sai?
a).
PHẦN I. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 12. Mỗi câu hỏi thí sinh chỉ chọn một phương án.
Trong không gian với hệ tọa độ , khoảng cách từ điểm đến mặt phẳng ( ) bằng
A. 4.B. 5.C. 3.D. 2.
PHẦN I. Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 12.
Mỗi câu hỏi thí sinh chỉ chọn một phương án.
Câu 1. Nguyên hàm của hàm số là
PHẦN I. Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 12. Mỗi câu thí sinh chỉ chọn một phương án.
Câu 1.[1] Trong không gian với hệ tọa độ , cho hai vecto . Tính góc giữa hai vecto và .
A B. C. D.
Câu 1. Không dùng máy tính cầm tay, giải phương trình .
Câu 2. Không dùng máy tính cầm tay, giải hệ phương trình
Câu 3. Cho hàm số (m là tham số) có đồ thị là đường thẳng d.
Câu 1: Nội dung nào dưới đây là chính sách đối ngoại của Liên Xô sau Chiến tranh thế giới thứ hai?  
A. Tìm cách trở lại các thuộc địa cũ.                         B. Giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa.
C. Liên minh chặt chẽ với phe tư bản.                         D. Hòa bình, trung lập, tích cực.
Họ, tên thí sinh: .....................................................................
Số báo danh: .........................................................................
Câu 1: Quốc gia mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người là