onthicaptoc.com
* GÓC NHÌN MỚI VỀ VĂN HỌC
TÀI LIỆU PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU CÁC TÁC PHẨM VÀ PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI HIỆU QUẢ NLVH
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
* CHUYÊN ĐỀ I: PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
* A. Mẹo phương pháp viết NLVH nhanh cho học sinh khá giỏi
* PHƯƠNG PHÁP VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC – PHẦN 1
Nội dung bài học:
* Phân tích đề
* Tìm ý bám sát vấn đề nghị luận
* Cách viết mở đoạn, kết đoạn
* Luyện tập: Viết đoạn văn về 7 câu thơ đầu bài thơ Đồng chí
I. HÌNH THỨC ĐOẠN VĂN
Lưu ý:
* Lùi đầu dòng rõ ràng
* Không xuống dòng
Một đoạn văn được tính từ chỗ lùi đầu dòng viết hoa đến chỗ chấm xuống dòng.
II. NỘI DUNG
Bước 1: Phân tích đề (1 phút - gạch chân vào đề)
- Đọc kĩ đề để xác định được:
+ Vấn đề nghị luận
+ Phạm vi dẫn chứng
+ Kiểu đoạn văn
+ Dung lượng (khoảng bao nhiêu câu/dòng/trang giấy)
+ Yêu cầu Tiếng Việt đi kèm
VD: Viết đoạn văn (khoảng 12 - 15 câu) theo cách lập luận tổng - phân - hợp nêu cảm nhận của em về những tín hiệu giao mùa trong khổ thơ thứ nhất bài “Sang thu” (Hữu Thỉnh). Trong đoạn văn có sử dụng thành phần biệt lập tình thái (gạch chân để chỉ rõ)
=> Phân tích đề:
- Vấn đề nghị luận: những tín hiệu giao mùa
- 1
Phạm vi dẫn chứng: khổ thơ thứ nhất bài “Sang thu”
- Kiểu đoạn văn: Tổng - phân - hợp
- Dung lượng: đoạn văn khoảng 12 - 15 câu
- Yêu cầu Tiếng Việt đi kèm: Trong đoạn văn có sử dụng thành phần biệt lập tình thái (gạch chân để chỉ rõ)
VD: Nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” đã diễn tả rất xúc động tình thương cha của nhân vật bé Thu khi cô bé nhận ông Sáu là cha trước khi ông Sáu phải lên đường. Bằng một đoạn văn (khoảng 12 - 15 câu) theo cách lập luận diễn dịch, em hãy nêu cảm nhận về tình cảm ấy của bé Thu. Trong đoạn văn có sử dụng câu ghép.
=> Phân tích đề:
- Vấn đề nghị luận: tình thương cha của bé Thu
- Phạm vi phân tích: cảnh chia tay trước khi ông Sáu lên đường
- Kiểu đoạn văn: diễn dịch
- Dung lượng: 12 - 15 câu
- Yêu cầu Tiếng Việt: sử dụng câu ghép
Lưu ý: Cùng 1 phạm vi dẫn chứng nhưng vấn đề nghị luận có thể khác nhau, khiến cho định hướng làm bài cũng khác nhau. Vì vậy KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN mà PHẢI ĐỌC THẬT KĨ ĐỀ để xác định đúng vấn đề nghị luận.
Bước 2: Lập ý (2 phút - gạch đầu dòng các từ khóa ra nháp)
- Huy động kiến thức nền về đối tượng cần nghị luận
- Bám sát yêu cầu đề bài, gạch ra các ý chính trong thân đoạn (có thể đặt những câu hỏi “là gì?”, “như thế nào?”, “thể hiện qua đâu?” để tìm ra ý chính)
- Bước này làm ra nháp, bằng các gạch đầu dòng và từ khóa. Các từ khóa cần ghi là:
+ Nội dung chính của mỗi phần nhỏ trong đoạn thơ/đoạn trích văn xuôi cần phân tích
+ Tên biện pháp tu từ + tác dụng
2
+ Đánh giá sau mỗi ý phân tích (thường là các tính từ)
+ Tình cảm, suy nghĩ của tác giả đã gửi gắm
+ Đặc sắc nghệ thuật: nhịp thơ, thể thơ, hình ảnh thơ, nhịp điệu trong văn xuôi, giọng văn, ngôn ngữ...
+ Dẫn chứng liên hệ mở rộng nếu có và vị trí muốn liên hệ
3
VD: Từ đề bài xác định được:
- Vấn đề nghị luận: những tín hiệu giao mùa
- Phạm vi phân tích: khổ 1 bài “Sang thu”.
=> Các ý chính là:
- Tín hiệu 1: hương ổi => đi liền với “bỗng”, “phả” => mùi hương đặc trưng của làng quê, giản dị, nồng nàn. Liên hệ “Gió thổi mùa thu hương cốm mới” - hương cốm
- Tín hiệu 2: gió se => đặc trưng của mùa thu xứ Bắc, làm sáng đậm hơn mùi hương ổi
- Tín hiệu 3: sương => Nhân hóa “chùng chình”, cố ý chậm lại, giăng mắc => không gian mơ hồ
- Tác giả giật mình, bối rối => vui, say sưa, tinh tế
- Đánh giá: nhiều giác quan, sinh động, gần gũi, tinh tế.
- Nghệ thuật: thể thơ 5 chữ, hình ảnh mộc mạc, nhẹ nhàng
VD: Từ đề bài xác định được:
- Vấn đề nghị luận: vẻ đẹp (nội dung + nghệ thuật) của khổ thơ
- Phạm vi phân tích: khổ 1 bài “Sang thu”.
=> Các ý chính là:
- Nội dung:
+ “Bỗng” đặt đầu câu => bất ngờ, đột ngột, giật mình bởi hương ổi thân quen. Liên hệ chia sẻ của Hữu Thỉnh
+ Hương ổi là tín hiệu đầu,nồng nàn, bao trùm không gian => đánh thức giác quan, sự cảm nhận
+ Hương ổi trong gió se + động từ “phả” => sánh đậm, không gian đặc trưng làng quê xứ Bắc
+ Sương giăng mắc, nhân quá qua “chùng chình” => gợi hình, gợi cảm => tinh tế
onthicaptoc.com
onthicaptoc.com
*
+ cảm giác mơ hồ, say sưa cùng thiên nhiên => “hình như”: không chắc chắn
=> Thu về trong mọi giác quan
- Nghệ thuật:
+ thể thơ 5 chữ đơn giản, gần gũi
+ Ngôn ngữ thơ tinh tế
+ Hình ảnh mộc mạc, sinh động
Lưu ý: Mỗi vấn đề nghị luận khác nhau sẽ có dàn ý khác nhau, cần bám sát vào vấn đề để xác định các ý chính và từ ngữ chủ đề xuyên suốt đoạn văn cần viết.
Bước 3: Viết đoạn văn (tối đa 40 phút - viết cẩn thận, sạch sẽ)
* Bám sát kiểu đoạn văn mà đề yêu cầu: Dưới đây là bố cục các kiểu đoạn văn thường gặp:
Diễn dịch
Tổng - phân - hợp
Quy nạp
Mở đoạn
Câu chủ đề
Câu chủ đề
Câu giới thiệu (không nêu vấn đề)
Thân đoạn
Lí lẽ + dẫn chứng
Lí lẽ + dẫn chứng
Lí lẽ + dẫn chứng
Kết đoạn
Câu gợi mở/cảm xúc (không chốt lại vấn đề)
Câu chủ đề
Câu chủ đề
* * Phương pháp viết MỞ ĐOẠN (1 - 2 câu => chuẩn bị trước khi đi thi)
1. 4
Đoạn văn diễn dịch và tổng - phân - hợp: mở đoạn phải nêu được câu chủ đề
a. Mở đoạn trực tiếp: Nêu vấn đề và phạm vi dẫn chứng (câu chủ đề)
- Công thức: Trong tác phẩm + tên tác phẩm, + tên tác giả + đã ghi dấu ấn đậm nét/khó phai trong lòng bạn đọc khi miêu tả/diễn tả/... thành công/một cách tinh tế/... + vấn đề nghị luận qua + phạm vi dẫn chứng.
- VD: Mở đoạn cho đề bài ở VD1:
Trong thi phẩm “Sang thu”, nhà thơ Hữu Thỉnh đã ghi dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc khi diễn tả một cách tinh tế những tín hiệu giao mùa qua khổ thơ đầu tiên.
- VD: Mở đoạn cho đề bài: Bằng 1 đoạn văn diễn dịch, nêu cảm nhận của em về nhân vật bé Thu trong buổi chia tay trước khi ông Sáu lên đường làm nhiệm vụ.
Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã ghi dấu ấn khó phai trong lòng bạn đọc khi diễn tả một cách xúc động về nhân vật bé Thu trong buổi chia tay trước khi ông Sáu lên đường làm nhiệm vụ.
b. Mở đoạn gián tiếp: Dẫn dắt + nêu vấn đề và phạm vi dẫn chứng (câu chủ đề)
- Cách 1: Dẫn dắt từ phong cách nghệ thuật của tác giả
+ Công thức: Trong nền văn học hiện đại/trung đại Việt Nam, + tên tác giả + điểm đáng lưu ý về tác giả (PCNT). Tiêu biểu cho phong cách độc đáo/ấn tượng ấy chính là thi phẩm/truyện ngắn/… + tên tác phẩm => Câu chủ đề.
+ VD: Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, Phạm Tiến Duật có giọng thơ sôi nổi, trẻ trung, pha chút ngang tàng mà sâu sắc, những trang thơ như “ngọn lửa đèn” của cả một thế hệ nhà thơ thời chống Mĩ. Tiêu biểu cho phong cách độc đáo ấy chính là thi phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” => Câu chủ đề
- Cách 2: Dẫn dắt từ đề tài
5
+ Công thức: Viết về + đề tài, nếu như + 2 đến 3 tác giả, tác phẩm về đề tài đó và đặc điểm nổi bật, thì + tác giả chính cùng đặc điểm nổi bật của tác phẩm => Câu chủ đề.
+ VD: Nếu như nhắc đến mùa thu trong thi ca, người ta hay nhớ đến những sắc, những hương đặc trưng như sắc vàng phai trong thơ Xuân Diệu: “Đây mùa thu tới, mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt lá vàng”, hay như hương cốm nồng nàn trong thơ Nguyễn Đình Thi: “Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới”; thì tín hiệu bắt đầu mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh lại là hương ổi chín trong làn gió se.
=> Câu chủ đề
- Cách 3: Dẫn dắt từ nhận định
+ Công thức: Tên tác giả của nhận định + đã từng viết/đã từng nói rằng/ đã từng tâm niệm rằng/...: “Trích dẫn nhận định”. Nhận định này khiến chúng ta nhớ về + tác giả hoặc tác phẩm + điểm liên quan với nhận định
=> Câu chủ đề
+ VD: Nhà thơ Đỗ Trung Lai đã từng nói: sáng tác của Phạm Tiến Duật là “Một góc bảo tàng tươi sống về Trường Sơn thời chống Mĩ”. Nhận định này khiến chúng ta nhớ về thi phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” - “một góc bảo tàng tươi sống” về những người lính lái xe Trường Sơn. => Câu chủ đề
* 2. Đoạn văn quy nạp: mở đoạn không nêu câu chủ đề, không khái quát nội dung toàn đoạn
- Công thức 1: Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn các thi nhân.
+ Tên nhà thơ + cũng đã có những vần thơ ý nghĩa như thế + trích thơ.
VD: Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn các thi nhân. Nhà thơ Chính Hữu cũng đã có những vần thơ ý nghĩa như thế: “Quê hương anh nước mặn đồng chua /.../ Đồng chí”.
* - 6
Công thức 2: Nếu phải chọn ra ý nghĩa cao cả nhất của văn chương trong đời sống thì đó là việc văn chương đã cống hiến cho cuộc đời này những câu chuyện đẹp đẽ, những nhân vật gần gũi mà ấn tượng cùng bao suy ngẫm sâu xa trong tâm hồn các nghệ sĩ. + Tên nhà văn + cũng đã viết lên/xây dựng những trang văn / nhân vật ý nghĩa như thế + trích dẫn chứng (trong phạm vi đề bài).
VD: Nếu phải chọn ra ý nghĩa cao cả nhất của văn chương trong đời sống thì đó là việc việc văn chương đã cống hiến cho cuộc đời này những câu chuyện đẹp đẽ, những nhân vật gần gũi mà ấn tượng cùng bao suy ngẫm sâu xa trong tâm hồn các nghệ sĩ. Nhà văn Lê Minh Khuê cũng đã viết lên những trang văn ý nghĩa như thế: “Việc của chúng tôi là ngồi đây… “những con quỷ mắt đen”.
- Tự do: Dẫn dắt từ những thông tin liên quan đến tác phẩm
7
Lưu ý: Cách viết mở đoạn áp dụng cho mọi đề bài:
- Bước 1: Dùng câu dẫn sau:
+ Thơ: Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn các thi nhân.
+ Văn xuôi: Nếu phải chọn ra ý nghĩa cao cả nhất của văn chương trong đời sống thì đó là việc văn chương đã cống hiến cho cuộc đời này những câu chuyện đẹp đẽ, những nhân vật gần gũi mà ấn tượng cùng bao suy ngẫm sâu xa trong tâm hồn các nghệ sĩ.
* Bước 2: Tùy vào kiểu đoạn văn để viết câu chủ đề hoặc giới thiệu dẫn chứng
VD: Mở đoạn cho đoạn văn quy nạp phân tích nhân vật bé Thu khi từ biệt cha: Từ một câu chuyện của cô giao liên trên đường công tác, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã xúc động viết nên truyện ngắn “Chiếc lược ngà”. Trong những trang văn ấy, ta bắt gặp một bé Thu ương ngạnh, gan lì, ngỡ như không bao giờ chịu nhận ông Sáu là ba, nhưng cuối cùng em đã cất tiếng gọi “Ba...a...a…” ngay tại thời khắc éo le nhất...
* * Phương pháp viết KẾT ĐOẠN (1-2 câu, chuẩn bị trước khi thi)
1. Đoạn văn tổng phân hợp, quy nạp: kết đoạn phải nêu được câu chủ đề
- Công thức: Như vậy/Tóm lại, bằng + đặc sắc nghệ thuật của đối tượng phân tích, + tên tác giả + đã khắc họa thành công + vấn đề nghị luận, để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng thật khó phai mờ.
- VD: Đoạn văn quy nạp phân tích cảnh ra khơi trong 2 khổ đầu bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận).
Như vậy, bằng những hình ảnh tráng lệ, những so sánh kì vĩ, độc đáo, tác giả Huy Cận đã khắc họa thành công cảnh ra khơi trong hai khổ thơ đầu bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”, để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng khó phai mờ.
* 2. Đoạn văn diễn dịch: Kết đoạn không nêu câu chủ đề, không tổng kết lại nội dung toàn đoạn.
- Gợi ý:
+ Sử dụng câu cảm thán bộc lộ cảm xúc cá nhân của mình.
+ Sử dụng nhận định về tác giả, tác phẩm.
- VD: Đoạn văn diễn dịch phân tích cảnh ra khơi trong 2 khổ đầu bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận).
Những câu thơ của Huy Cận như một bức tranh thật kì vĩ và ấn tượng biết bao!
* III. LUYỆN TẬP
Đề bài: Bằng một đoạn văn tổng hợp - phân tích - tổng hợp khoảng 12 - 15 câu, em hãy phân tích những cơ sở hình thành tình đồng chí trong 7 câu thơ đầu bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu).
Bước 1: Phân tích đề (gạch chân)
- Vấn đề nghị luận: cơ sở hình thành tình đồng chí.
- Phạm vi dẫn chứng: 7 câu đầu bài thơ “Đồng chí”
- Kiểu đoạn văn: tổng - phân - hợp
- Dung lượng: 12 - 15 câu (tối đa chỉ được lên đến 18 câu)
- Yêu cầu Tiếng Việt: không có
8
Bước 2: Lập ý
- Cơ sở: sự tương đồng
- Tương đồng về nguồn gốc xuất thân => đối “quê hương anh” - “làng tôi” => miền quê nghèo, nông dân mặc áo lính
- Tương đồng về lí tưởng, lòng yêu nước => từ xa lạ, cùng nhập ngũ để chiến đấu bảo vệ quê hương
- Tương đồng về nhiệm vụ, hoàn cảnh sống: điệp + hoán dụ => gắn bó, chia ngọt sẻ bùi để hoàn thành niệm vụ
* liên hệ: “Giá từng thước đất”
=> Tình đồng chí được hình thành, là một quá trình
- “Đồng chí” + dấu chấm than đứng tách riêng => nốt lặng, dồn nén cảm xúc, kết đọng và gợi mở.
=> Tác giả thấu hiểu, trân trọng
- Nghệ thuật: lời thơ giản dị, xúc động
Bước 3: Viết đoạn văn
9
Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn các thi nhân. Nhà thơ Chính Hữu cũng đã có những vần thơ ý nghĩa như thế viết về cơ sở hình thành tình đồng chí đồng đội giữa những người lính cách mạng: “Quê hương anh nước mặn đồng chua /.../ Đồng chí”. Tình đồng chí được xây dựng dựa trên ở sở những điểm chung giữa những con người từ xa lạ trở nên thân quen và thành tri kỉ. Trước tiên là điểm chung về hoàn cảnh xuất thân. Người lính buổi đầu kháng Pháp đều ra đi từ những vùng quê nghèo, là những người nông dân nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh” và “làng tôi” ấy tuy cách xa nhau nhưng trong kết cấu câu thơ song hành, thủ pháp đối đã cho thấy sự soi chiếu để rồi nhận ra những tương đồng trong cảnh ngộ của bao người lính. Phải chăng chính nguồn gốc xuất thân của các anh đã làm nên bệ phóng cho tình đồng chí? Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, gần gũi như lời thăm hỏi. Họ hiểu nhau, thương nhau, chia sẻ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nông dân chân lấm tay bùn, nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo đói xô đẩy, mà do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả. Và đã từ khi nào các anh trở thành tri kỉ của nhau: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu / Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. “Súng bên súng”, đầu sát bên đầu” và “đêm rét chung chăn” là biện pháp điệp, là hình ảnh hoán dụ diễn tả sự cùng chung chí hướng, ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao, của đôi “tri kỉ”. Chia ngọt sẻ bùi mới “thành đôi tri kỉ”. Hiểu bạn như hiểu mình mới thành “đôi tri kỉ”. Qua cảm nhận và tấm lòng của một người lính làm thơ như Chính Hữu, tình đồng chí vẫn luôn sáng trong, gắn bó và giản dị như thế: “Đồng đội ta/ là hớp nước uống chung/ Nắm cơm bẻ nửa/ Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa/ Chia khắp anh em một mẩu tin nhà/ Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp/ Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.” (“Giá từng thước đất”). Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Đó là cả một quá trình, từ “anh” - “tôi” xa lạ, thành “anh với tôi” rồi là “đôi tri kỉ” và cuối cùng trở thành “đồng chí”. “Đồng chí!” - hai tiếng vang lên cùng dấu chấm than như một nốt lặng trong nhịp thơ, như lắng đọng lại tất cả, diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu vì quê hương, đất nước. Như vậy, bằng giọng điệu thủ thỉ tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ, nhà thơ Chính Hữu đã khắc họa một cách xúc động và đầy trân trọng về cơ sở hình thành tình đồng chí qua bảy câu thơ đầu của thi phẩm “Đồng chí”, để lại bao ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc.
* Phân tích bài viết mẫu:

Phần
Lập ý
Diễn đạt hoàn chỉnh trong đoạn
Mở đoạn
Dẫn dắt
Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn các thi nhân.
Nêu vấn đề
Nhà thơ Chính Hữu cũng đã có những vần thơ ý nghĩa như thế viết về cơ sở hình thành tình đồng chí đồng đội giữa những người lính cách mạng
10
onthicaptoc.com
onthicaptoc.com
Phạm vi phân tích
“Quê hương anh nước mặn đồng chua /.../ Đồng chí”.
Thân đoạn
Cơ sở: sự tương
đồng
Tình đồng chí được xây dựng dựa trên ở sở những điểm
chung giữa những con người từ xa lạ trở nên thân quen
và thành tri kỉ.
Tương đồng về
nguồn gốc xuất
thân => đối “quê
hương anh” -
“làng tôi” =>
miền quê nghèo,
nông dân mặc áo
lính
Trước tiên là điểm chung về hoàn cảnh xuất thân.Người lính buổi đầu kháng Pháp đều ra đi từ những vùng quê nghèo, là những người nông dân nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh” và “làng tôi” ấy tuy cách xa nhau nhưng trong kết cấu câu thơ song hành, thủ pháp đối đã cho thấy sự soi chiếu để rồi nhận ra những tương đồng trong cảnh ngộ của bao người lính. Phải chăng chính nguồn gốc xuất thân của các anh đã làm nên bệ phóng cho tình đồng chí?
Tương đồng về lí
tưởng, lòng yêu
nước => từ xa lạ,
cùng nhập ngũ để
chiến đấu bảo vệ
quê hương
Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, gần gũi như lời thăm hỏi. Họ hiểu nhau, thương nhau, chia sẻ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nông dân chân lấm tay bùn, nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo đói xô đẩy, mà do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả.
Tương đồng về nhiệm vụ, hoàn cảnh sống: điệp + hoán dụ => gắn bó, chia ngọt sẻ bùi để hoàn thành niệm vụ
* liên hệ: “Giá từng thước đất”
11
Và đã từ khi nào các anh trở thành tri kỉ của nhau: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu / Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. “Súng bên súng”, đầu sát bên đầu” và “đêm rét chung chăn” là biện pháp điệp, là hình ảnh hoán dụ diễn tả sự cùng chung chí hướng, ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao, của đôi “tri kỉ”. Chia ngọt sẻ bùi mới “thành đôi tri kỉ”. Hiểu bạn như hiểu mình mới thành “đôi tri kỉ”. Qua cảm nhận và tấm lòng của một người lính làm thơ như Chính Hữu, tình đồng chí vẫn luôn sáng trong, gắn bó và giản dị như thế: “Đồng đội ta/ là hớp nước uống chung/ Nắm cơm bẻ nửa/ Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa/ Chia khắp anh em một mẩu tin nhà/ Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp/ Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.” (“Giá từng thước đất”).
=> Tình đồng chí được hình thành, là một quá trình
Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Đó là cả một quá trình, từ “anh” - “tôi” xa lạ, thành “anh với tôi” rồi là “đôi tri kỉ” và cuối cùng trở thành “đồng chí”.
“Đồng chí” + dấu chấm than đứng tách riêng => nốt lặng, dồn nén cảm xúc, kết đọng và gợi mở.
“Đồng chí!” - hai tiếng vang lên cùng dấu chấm than như một nốt lặng trong nhịp thơ, như lắng đọng lại tất cả, diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu vì quê hương, đất nước.
Kết đoạn
=> Tác giả thấu hiểu, trân trọng
Như vậy, bằng giọng điệu thủ thỉ tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ, nhà thơ Chính Hữu đã khắc họa một cách xúc động và đầy trân trọng về cơ sở
Nghệ thuật: lời thơ giản dị, xúc động
hình thành tình đồng chí qua bảy câu thơ đầu của thi phẩm “Đồng chí”, để lại bao ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc.
* PHƯƠNG PHÁP VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC – PHẦN 1
Nội dung bài học:
* Phân tích đề, tìm ý
* Phương pháp viết mở bài
* Phương pháp viết kết bài
* Luyện tập bài văn về “Viếng lăng Bác”
I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Có 4 dạng đề nghị luận văn học thường gặp:
- Dạng 1: Phân tích / Cảm nhận => Dạng đề cơ bản nhất.
VD: Cảm nhận của em về hình ảnh người lính lái xe trong ba khổ thơ cuối thi phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật).
- Dạng 2: Chứng minh nhận định => Dạng đề hay gặp trong đề thi học sinh giỏi, thi chuyên
VD: Qua bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Sang thu của Hữu Thỉnh không chỉ có hình ảnh đất trời nên thơ mà còn có hình tượng con người trước những biến chuyển của cuộc đời ở thời khắc giao mùa”.
- Dạng 3: So sánh văn học
VD: So sánh hình ảnh người lính cách mạng ở bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu) và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật).
- Dạng 4: Liên hệ
VD: Cảm nhận của em về hai khổ thơ sau: “Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca
Ta nhập vào hoa ca
41

Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
(Trích “Mùa xuân nho nhỏ”- Thanh Hải)
Lưu ý: Dạng 1 là dạng cơ bản nhất, là tiền đề để làm được tất cả các dạng còn lại, cũng là dạng đề thi vào 10 của các tỉnh thành. Bởi vậy những phương pháp dưới đây sẽ tập trung giúp học sinh làm thành thạo dạng 1 (dạng đề phân tích, cảm nhận).
Từ đó liên hệ với tinh thần cống hiến của nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn thành Long) để làm rõ vẻ đẹp của những con người cống hiến tự nguyện và lặng lẽ cho cuộc đời chung.
* II. CÁC BƯỚC LÀM BÀI DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH, CẢM NHẬN
1. Bước 1: Phân tích đề (2 phút - gạch chân vào đề)
a. Cách làm: Gạch chân vào đề:
- Vấn đề nghị luận: đề bài yêu cầu làm rõ điều gì? (thường nằm sau chữ “về...”, “cảm nhận của em về…”, “phân tích về…”)
- Phạm vi phân tích: những khổ thơ nào, đoạn trích nào, nhân vật nào… cần phân tích
VD: Cảm nhận của em về khúc tâm tình của người cha qua đoạn thơ.
“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
42
Còn quê hương thì làm phong tục.
Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.”
(Nói với con – Y Phương, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục 2015)
=> Vấn đề nghị luận: khúc tâm tình của người cha
=> Phạm vi phân tích: đoạn thơ được trích trong đề (14 câu thơ cuối bài)
* b. Mục đích của bước làm này
- Để xác định những gì cần nêu trong Mở bài và Kết bài
- Định hướng hệ thống luận điểm trong Thân bài
- Xác định được những từ khóa cần nhắc lại nhiều lần trong quá trình viết (những từ chủ đề trong vấn đề nghị luận)
* 2. Bước 2: Lập ý (5 phút - Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)
a. Cách làm:
- Dàn ý cơ bản của dạng đề phân tích:
Phần
Nội dung
Mở bài
Dẫn dắt + Đặt vấn đề
Thân bài
Luận điểm 1: Khái quát
Luận điểm 2: Phân tích, làm sáng tỏ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
Luận điểm 3: Khái quát vấn đề
Kết bài
Khẳng định lại vấn đề + Cảm nhận của bản thân
- Ở bước này cần ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề những luận điểm trong THÂN BÀI:
+ LĐ 1: Khái quát
● Tác giả: Cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác (những thông tin chưa nêu ở mở bài)
● 43
Tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính, đối với thơ thì khái
quát thêm về mạch cảm xúc, đối với truyện thì khái quát thêm về tình huống truyện.
● Vấn đề nghị luận: Vị trí trong tác phẩm, nội dung chính
+ LĐ 2: Phân tích, cảm nhận (Dựa vào vấn đề nghị luận và phạm vi phân tích để xây dựng hệ thống luận cứ. Trả lời những câu hỏi từ khái quát đến cụ thể để lập ý, huy động kiến thức nền đã được học):
● Câu hỏi 1 - Khái quát: Vấn đề nghị luận được thể hiện với những đặc điểm chính nào? Phạm vi phân tích được chia thành mấy phần? Nội dung chính của từng phần là gì? => Từ đó lập ra các luận cứ
● Câu hỏi 2 - Cụ thể: Trong mỗi luận cứ có các ý nhỏ nào? Trong mỗi luận cứ, tác giả sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Tác dụng là gì? Các hình ảnh có ý nghĩa như thế nào? Nếu là truyện/nhân vật thì có những nét tính cách gì, suy nghĩ, hành động ra sao?... => Từ đó lập ra các ý nhỏ trong mỗi luận cứ
● Đánh dấu vào những ý muốn liên hệ mở rộng hoặc đi sâu phân tích
+ LĐ 3: Đánh giá
● Đặc sắc nội dung, nghệ thuật của vấn đề nghị luận
● Tài năng, tấm lòng của tác giả
● Liên hệ bản thân (nếu có)
VD: Cảm nhận của em về tình cảm của tác giả Viễn Phương thể hiện trong hai khổ thơ đầu bài thơ “Viếng lăng Bác”.
=> Vấn đề nghị luận: tình cảm của tác giả Viễn Phương
=> Phạm vi phân tích: hai khổ thơ đầu bài thơ “Viếng lăng Bác”.
=> Lập ý:
LĐ 1: Khái quát
- Viễn Phương:
+ cây bút tiêu biểu của nền văn nghệ kháng chiến
44

+ chất thơ mộc mạc, giản dị, chân thành, giàu cảm xúc, tình cảm và lòng biết ơn đối với quê hương, đất nước.
- “Viếng lăng Bác”:
+ 1976
+ Nhà thơ ra thăm lăng Bác
+ Sau khi nước nhà thống nhất
- 2 khổ đầu: tình cảm của tác giả khi đến lăng và khi cùng dòng người vào lăng viếng Bác
LĐ 2: Phân tích
- Luận cứ 1: Niềm xúc động, tình cảm thân thương, kính trọng khi đến lăng Bác
+ xưng hô “con” - “Bác” + “miền Nam” => tình cảm kính yêu, trìu mến, thiêng liêng
(Liên hệ về cách xưng hô đặc biệt giữ nhân dân và Chủ tịch HCM)
+ “thăm” => nói giảm nói tránh
+ hàng tre:
● tả thực: khung cảnh ngoài lăng
● ẩn dụ: con người VN kiên cường, bền bỉ trước “bão táp mưa sa”
● Ôi! => câu cảm thán bộc lộ trực tiếp cảm xúc
- Luận cứ 2: Tấm lòng thành kính, tiếc thương khi cùng dòng người vào lăng viếng Bác:
+ Nghệ thuật sóng đôi, ẩn dụ: “mặt trời đi qua trên lăng” + “mặt trời trong lăng”
● mặt trời của tự nhiên, đem lại hơi ấm, ánh sáng, sự sống cho muôn loài.
● mặt trời trong lăng ẩn dụ chỉ Bác Hồ - người đã soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam => ca ngợi sự vĩ đại, công lao to lớn của Bác + bày tỏ lòng tôn kính, tự hào, biết ơn vô hạn đối với Bác
+ Mặt trời “rất đỏ” => trái tim tràn đầy nhiệt huyết cách mạng, giàu lòng yêu nước, thương dân của Người => mặt trời tự nhiên dường như cũng đang ngày ngày chiêm ngưỡng mặt trời của dân tộc.
+ Điệp từ “ngày ngày” => tiếp nối thời gian liên tục, tạo nhịp điệu chậm rãi, sâu lắng.
45

+ Hình ảnh ẩn dụ “kết tràng hoa”
● tả thực (những bông hoa tươi thắm kết thành tràng hoa dâng lên Người).
● biểu tượng => mỗi người con đang xếp hàng vào lăng viếng Bác mỗi ngày là một bông hoa ngát thơm, họ xếp thành hàng dài tựa những tràng hoa, dòng người đó vào lăng viếng Bác với tấm lòng thành kính, dâng lên Người những gì tốt đẹp nhất.
+ “Bảy mươi chín mùa xuân” chỉ bảy mươi chín năm cuộc đời Bác, một cuộc đời đẹp như những mùa xuân và chính Người đã làm ra mùa xuân cho đất nước, dân tộc. Biên độ câu thơ kéo dài thành chín chữ sâu lắng, âm điệu câu thơ thì mượt mà, giàu hình ảnh và sâu sắc hơn.
LĐ 3: Đánh giá:
- Nội dung đoạn thơ
- Nghệ thuật của 2 đoạn thơ
* b. Mục đích của bước làm này
- Giúp người viết xây dựng được hệ thống luận điểm chặt chẽ, khi viết không bị thiếu ý, thừa ý, quên ý.
- Lưu ý: Tùy vào khả năng làm chủ kiến thức mà bước 2 này em có thể làm một cách cụ thể hay khái quát:
+ Nếu đã nắm chắc kiến thức rồi thì chỉ cần ghi lại những ý chính
+ Nếu chưa nắm chắc kiến thức thì cần ghi chi tiết hơn nội dung của từng ý
+ Chỉ ghi những từ khóa chính, không ghi cả câu dài dòng gây mất thời gian.
Làm chủ thời gian khi viết, chủ động căn giờ để hoàn thành bài.
*
* 3. Bước 3: Viết bài (65 đến 70 phút - trình bày sạch sẽ, cẩn thận)
Trình tự viết: Viết lần lượt từng phần MB, TB, KB theo dàn ý cơ bản đã nêu ở bước 2
* 4. Bước 4: Đọc lại bài (3 phút - nếu còn thời gian)
- Chú ý đọc lại những câu mở đoạn, kết đoạn xem đã viết đúng, rõ ràng chưa.
- 46

Soát lỗi chính tả.
- Nếu có lỗi cần sửa thì gạch đi sửa lại thật sạch sẽ.
* III. PHƯƠNG PHÁP VIẾT TỪNG PHẦN NHỎ TRONG BÀI VIẾT
Tại đây hướng dẫn phương pháp viết từng phần nhỏ trong bài viết theo trình tự:
- Mở bài + Kết bài
- Thân bài: LĐ 1 + LĐ 3
- Thân bài: LĐ 2: Phân tích thơ
- Thân bài: LĐ 2: Phân tích văn xuôi
- Cách liên hệ mở rộng, tạo điểm nhấn trong bài viết
1. PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI (5 phút)
a. Cấu trúc
Mở bài = Dẫn dắt + Nêu vấn đề và phạm vi phân tích Trong đó:
+ Dẫn dắt là phần không bắt buộc nhưng nên có để mở bài hay và ấn tượng => Phần được sáng tạo linh hoạt, có thể chuẩn bị trước khi đi thi.
+ Nêu vấn đề và phạm vi phân tích là phần BẮT BUỘC phải nêu đúng và đủ => Phần cố định, phụ thuộc vào từng đề bài khác nhau.
* b. Cách viết
* Mở bài trực tiếp: giới thiệu tác giả, tác phẩm => Nêu vấn đề nghị luận và phạm vi phân tích.
VD: Viễn Phương là một cây bút tiêu biểu của nền văn nghệ kháng chiến. Thơ ông mộc mạc, giản dị, giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc tình cảm, lòng biết ơn đối với quê hương, đất nước. Tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Viễn Phương phải kể tới đó là thi phẩm “Viếng lăng Bác”. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc về tình cảm kính yêu, tha thiết của tác giả qua hai khổ thơ đầu: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác /.../ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”
=> Nhận xét: Cách viết này nhanh, đảm bảo đúng, đủ, nhưng không ấn tượng.
* 47
Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt từ đề tài/phong cách sáng tác/nhận định/cảm nhận cá nhân… + Nêu vấn đề và phạm vi phân tích
Dưới đây là một số cách dẫn dắt:
- Cách 1: Dẫn dắt từ đề tài sáng tác
+ Trình tự viết: Nêu tên đề tài => dẫn ra khoảng 2 đến 3 tác phẩm thuộc đề tài đó => Dẫn vào tác phẩm => Dẫn vào vấn đề cần nghị luận
+ Công thức: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, + tên đề tài + không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Chúng ta từng biết tới...+ trích dẫn 2 - 3 tác phẩm, tác giả tiêu biểu viết về đề tài đó. Và khi đến với những sáng tác của + tên tác giả, chúng ta lại thêm một lần nữa được nhìn về một tác phẩm nổi bật thuộc đề tài này đó là + tên tác phẩm => Nêu vấn đề cần nghị luận.
Hoặc: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, + tên đề tài + không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Và + tên tác giả + là một trong những cây bút tiêu biểu sáng tác về đề tài này. Tên tác phẩm + của ông/bà + đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng những trang thơ/trang văn đậm màu sắc + đặc điểm của đề tài trong tác phẩm của họ => Nêu vấn đề
+ VD: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đề tài người lính không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Và Phạm Tiến Duật là một trong những cây bút tiêu biểu sáng tác về đề tài này. Thi phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng những trang thơ đậm màu sắc trẻ trung, sôi nổi, ngang tàng mà sâu sắc. => Nêu vấn đề
- Cách 2: Dẫn dắt từ phong cách sáng tác của tác giả
+ Trình tự viết: Đi sâu vào phong cách của tác giả => Tác phẩm => Nêu vấn đề
48
+ Công thức: Mỗi người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác đều có một chất giọng của riêng mình. Nếu + 1 số tác giả và phong cách tương ứng + thì + tác giả chính + lại ghi dấu ấn trên thi đàn/văn đàn bằng chất giọng + phong cách của tác giả chính. Tên tác phẩm + chính là kết tinh của phong cách ấy. => nêu vấn đề.
+ Ví dụ: Mỗi người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác đều có một chất giọng của riêng mình. Nếu Kim Lân có chất văn giản dị, chân chất, mộc mạc khi viết về người nông dân của làng quê Bắc Bộ thì Nguyễn Quang Sáng lại ghi dấu ấn trên văn đàn bằng chất giọng đôn hậu, hào sảng đặc trưng cho người nông dân Nam Bộ. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” chính là kết tinh cho phong cách độc đáo ấy của Nguyễn Quang Sáng. => nêu vấn đề.
- Cách 3: Dẫn dắt từ nhận định, đoạn thơ có nội dung phù hợp
+ Trình tự: Trích nhận định/ đoạn thơ => Khái quát nội dung của nhận định/đoạn thơ đó => Nêu tác giả tác phẩm => Nêu vấn đề
+ Công thức 1 (Nhận định): “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự giãi bày và gửi gắm tâm tư” (Lê Ngọc Trà). Phải chăng tác phẩm nghệ thuật chính là cầu nối để tác giả bộc lộ cảm xúc và người đọc từ đó được đồng cảm, thấu hiểu và sẻ chia. Tác giả + cũng đã mượn trang thơ/trang văn + tên tác phẩm + để bộc lộ/gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình về + nội dung chính của tác phẩm => Nêu vấn đề nghị luận
=> Cách này dùng cho các tác phẩm thơ và văn xuôi giàu tình cảm, cảm xúc như “Đồng chí”, “Bếp lửa”, “Ánh trăng”, “Mùa xuân nho nhỏ”, “Viếng Lăng Bác”, “Sang thu”, “Nói với con”, “Làng”, “Chiếc lược ngà”...
49
VD: “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự giãi bày và gửi gắm tâm tư” (Lê Ngọc Trà). Phải chăng tác phẩm nghệ thuật chính là cầu nối để tác giả bộc lộ cảm xúc và người đọc từ đó được đồng cảm, thấu hiểu và sẻ chia. Nhà thơ Bằng Việt cũng đã mượn trang thơ “Bếp lửa” để gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình về tình bà cháu hay rộng hơn là tình yêu đối với gia đình, với quê hương, xứ sở. => Nêu vấn đề nghị luận.
+ Công thức 2 (nhận định): “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra” (Andecxen). Tên tác giả + cũng đã xuất phát từ những kỉ niệm / giá trị thực trong đời sống để rồi viết lên một câu chuyện đẹp mang tên + tên tác phẩm. Tác phẩm đã gây ấn tượng trong lòng bạn đọc bởi + nội dung đặc sắc của tác phẩm. => Nêu vấn đề.
=> Cách này áp dụng cho các tác phẩm truyện
VD: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra” (Andecxen). Nhà văn Nguyễn Thành Long cũng đã xuất phát từ những giá trị thực trong đời sống để rồi viết lên một câu chuyện đẹp mang tên “Lặng lẽ Sa Pa”. Tác phẩm đã gây ấn tượng trong lòng bạn đọc bởi vẻ đẹp phẩm chất của những con người trẻ tuổi, trẻ lòng luôn biết suy nghĩ và cống hiến cho Tổ quốc. => Nêu vấn đề.
+ Công thức 3 (đoạn thơ): Tôi vẫn còn nhớ nhà thơ Chế LAn Viên từng viết :
“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông”
Lịch sử vẻ vang của dân tộc được làm nên từ những thế hệ đã hi sinh xương máu vì bình yên “cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông” của Tổ quốc như thế. Họ không chỉ sống mãi trong lòng dân tộc mà còn sáng mãi trên những trang văn, trang thơ bất hủ. Tên tác phẩm và tác giả + cũng đã khắc họa một cách chân thực và đầy tự hào về những người chiến sĩ anh dũng ấy. => Nêu vấn đề.
=> Cách này dùng cho các tác phẩm viết về đề tài người lính
VD: Tôi vẫn còn nhớ nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:
“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
50

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông”
Lịch sử vẻ vang của dân tộc được làm nên từ những thế hệ đã hi sinh xương máu vì bình yên “cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông” của Tổ quốc như thế. Họ không chỉ sống mãi trong lòng dân tộc mà còn sáng mãi trên những trang văn, trang thơ bất hủ. Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê cũng đã khắc họa một cách chân thực và đầy tự hào về những nữ thanh niên xung phong dũng cảm ấy. => Nêu vấn đề.
- Cách 4: Dẫn dắt từ cảm nhận cá nhân, có lồng ghép kiến thức lí luận văn học
+ Trình tự viết: Nêu suy nghĩ cá nhân về giá trị của văn chương => Dẫn ra tác giả tác phẩm => Nêu vấn đề.
+ Công thức: Nếu phải chọn ra ý nghĩa nhân văn nhất của thơ ca trong đời sống thì đó là việc thơ ca đã cống hiến cho cuộc đời này những tiếng lòng đẹp đẽ, những vẻ đẹp trong sáng, đầy cảm xúc trong tâm hồn các thi nhân. => Tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
Hoặc: Nếu phải chọn ra ý nghĩa cao cả nhất của văn chương trong đời sống thì đó là việc văn chương đã cống hiến cho cuộc đời này những câu chuyện đẹp đẽ, những nhân vật gần gũi mà ấn tượng cùng bao suy ngẫm sâu xa trong tâm hồn các nghệ sĩ.
+ Một số cách dẫn dắt khác:
1. 51

Dostoevski đã từng viết khi lý giải về động lực cầm bút của mình: “Tôi hãy còn một trái tim, một dòng máu nóng để yêu thương, cảm thông và chia sẻ.” Còn R.Targo – nhà thơ vĩ đại của Ấn Độ lại bày tỏ mong muốn sau khi từ giã cõi đời được nhắn nhủ lại một lời: “Tôi đã từng yêu”. Có phải bởi những nhà văn, nhà thơ vĩ đại – họ chính là những con người đã sống, đã yêu hết mình và thấm thía hơn ai hết giá trị của cuộc sống. Chính điều này đã khiến cho tác phẩm của bất cứ nhà thơ nhà văn nào khi viết đều dường như muốn thoát ra hết chính mình, một tác phẩm đã viết, phải viết bằng cà lý trí, tâm hồn, cả trái tim và lòng dũng cảm. (Tác phẩm) là một trong số những bài thơ như thế. Nó được viết ra bởi những thấm thía về (đề tài) của + (Tác giả) + (Dẫn vào vấn đề cần nghị luận).
2. Trên đỉnh núi Odenzơ kỳ diệu, nơi có những vòm hoa thạch thảo tim tím, mơ màng, Andecxen đã nhặt lấy những hạt giống trên luống đất của người dân cày mà dệt lên những bài ca bất tận. Những phù sa của một dòng sông Mixixipi miền Tây nước Mỹ đã bồi đắp cho những trang văn của Mác Tuên để rồi đến tận bây giờ, hơi ấm và chất mặn nồng của con người miền Tây vẫn gây ra những ám ảnh, gợi cho ta nhớ về những chuyến phiêu lưu, những cuộc đời ưa mạo hiểm. Có thể thấy, thành công của mỗi người nghệ sĩ đều phải bắt nguồn từ việc anh ta buộc chặt trái tim mình với cuộc đời và nếu được, xin hãy đem tâm hồn mình trao về một miền đất. Có phải vì thế mà (tên tác giả) đã … (Dẫn vào bài thơ và vấn đề nghị luận).

onthicaptoc.com PHUONG PHAP VIET DOAN VAN NGHI LUAN VAN HOC

Xem thêm
1.1 Phương trình bậc nhất hai ẩn
1.1.1Phương trình bậc nhất hai ẩn
Định nghĩa .
BÀI TOÁN THỰC TẾ TIỆM CẬN CỦA ĐỒ THỊ HÀM SỐ
Câu 1.Để loại bỏ chất gây ô nhiễm không khí từ khí thải của một nhà máy, người ta ước tính chi phí cần bỏ ra là (triệu đồng).
Số tiệm cận đứng của đồ thị hàm số là?
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM HỆ THỨC LƯỢNG TRONG TAM GIÁC
Câu 1: Điểm là điểm trên đường tròn lượng giác, biểu diễn cho góc lượng giác có số đo . Tìm khẳng định đúng.
A. .B. .C. .D. .
BÀI 2: SỰ ĐIỆN LI, THUYẾT BRONSTED-LOWRY VỀ ACID-BASE
A. LÝ THUYẾT
Sự điện li là quá trình phân li các chất khi tan trong nước thành các ion. Chất điện li là những chất tan trong nước phân li thành các ion . Chất không điện li là chất khi tan trong nước không phân li thành các ion
PHƯƠNG PHÁP TÌM GIÁ TRỊ LỚN NHẤT VÀ GIÁ TRỊ NHỎ NHẤT
DỰA VÀ BẢNG BIẾN THIÊN VÀ ĐỒ THỊ
Ví dụ 1: Cho hàm số liên tục trên đoạn và có bảng biến thiên trong đoạn như hình. Gọi là giá trị lớn nhất của hàm số trên đoạn . Tìm giá trị của ?
TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI ÔN TẬP CHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN
Câu 1.Trong không gian , cho điểm và mặt phẳng .
Khẳng định nào sau là đúng hay sai?
TRẮC NGHIỆM LÝ THUYẾT GIAO THOA SÓNG CƠ
Câu 1: (SBT - KNTT) Hiện tượng giao thoa sóng là hiện tượng
A. giao thoa của hai sóng tại một điểm trong môi trường.