TÀI LIỆU CHUYÊN SÂU
MÔN: NGỮ VĂN
ÔN THI VÀO 10
MỤC LỤC
CHUYÊN ĐỀ 1: ĐỌC HIỂU
Dạng câu hỏi
Trang
Dạng câu hỏi
Trang
Dạng câu hỏi phân biệt các thể loại văn học, thể thơ
3
Dạng câu hỏi xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng
14
Dạng câu hỏi xác định câu chủ đề của văn bản
8
Dạng câu hỏi xác định nội dung của từ/cụm từ khóa
22
Dạng câu hỏi xác định nội dung chính của văn bản
8
Dạng câu hỏi đưa ra cách hiểu/ suy nghĩ của bản thân
23
Dạng câu hỏi đặt nhan đề
9
Dạng câu hỏi giải thích ý kiến tác giả
24
Dạng câu hỏi xác định ngôi kể
10
Dạng câu hỏi rút ra bài học / thông điệp cho bản thân
26
Dạng câu hỏi xác định từ ngữ/hình ảnh biểu đạt nội dung trong văn bản
11
Dạng câu hỏi đồng tình/ không đồng tình với 1 ý kiến/ quan điểm.
27
Dạng câu hỏi xác định phương thức lập luận
12
Dạng câu hỏi nhận xét về tình cảm của tác giả
28
BẢNG HỆ THỐNG KIẾN THỨC 6-9 CẦN GHI NHỚ
29
CHUYÊN ĐỀ 2: DẠNG BÀI VĂN
NLVH
NLXH
Phương pháp phân tích tác phẩm thơ
34
Phương pháp làm dạng đề: Nghị luận về 1 hiện tượng xã hội
83
Phương pháp phân tích tác phẩm truyện
57
Phương pháp làm dạng đề: Nghị luận về 1 tư tưởng đạo lý
97
CHUYÊN ĐỀ 3: DẠNG ĐOẠN VĂN
NLVH
NLXH
Phương pháp phân tích tác phẩm thơ
107
Phương pháp làm dạng đề: Nghị luận về 1 tư tưởng đạo lý
124
Phương pháp phân tích tác phẩm truyện
116
Phương pháp làm dạng đề: Nghị luận về 1 hiện tượng xã hội
128
CHUYÊN ĐỀ 4: ĐỀ LUYỆN
PHẦN 1: Dạng bài văn NLXH, đoạn văn NLVH
Đề
Trang
Đề
Trang
1
131
9
177
2
137
10
183
3
142
11
188
4
148
12
194
5
153
13
200
6
159
14
206
7
164
15
211
8
171
PHẦN 2: Dạng đoạn văn NLXH, bài văn NLVH
Đề
Trang
Đề
Trang
1
218
9
268
2
225
10
275
3
231
11
281
4
239
12
288
5
244
13
294
6
251
14
301
7
256
15
307
8
263
CHUYÊN ĐỀ I: PHƯƠNG PHÁP CHINH PHỤC PHẦN ĐỌC HIỂU ĐỀ THI
Mẹo, phương pháp nhanh cho học sinh ôn thi vào 10
I. Dạng câu hỏi phân biệt các thể loại văn học
-Tác phẩm văn học bao gồm: tự sự, trữ tình, kịch.
+ Các thể loại trữ tình: ca dao, thơ cách luật, thơ tự do, thơ trào phúng…
+ Các thể loại tự sự: truyện, ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, bút kí, phóng sự…
+ Các thể loại kịch: Bi kịch, hài kịch.
Mẹo: khi làm dạng này các em không nên đọc văn bản trước, mà đọc câu hỏi ở đề bài trước để tránh trường hợp phải đọc lại rất tốn thời gian
CÔNG THỨC:
Bước 1: Quan sát kĩ đặc điểm văn bản dung lượng, hình thức(văn xuôi hay thơ), ngôn ngữ, ngôi kể, nhân vật….
Bước 2: Đối chiếu với kiến thức lý thuyết thể loại mình đã học
Bước 3: Thể loại của văn bản là:….
(nếu là thơ, thì đếm số chữ trong câu xuyên suốt văn bản đề bài cho là xác định được.
VD1: 7 chữ 1 dòng xuyên suốt văn bản⇒ thơ 7 chữ
VD2: dòng 3 chữ, dòng 7 chữ, dòng 1 chữ…⇒thơ tự do)
Mẹo: đề thi họ ít khi hỏi những kiến thức cao siêu lắm, đặc biệt là năm đầu thi chương trình mới ví dụ: bút kí,tuỳ bút, thơ trung đại, phóng sự, tiểu thuyết,tản văn… Chủ yếu thi truyện, thơ hiện đại ⇒ vì vậy nếu yếu quá, đọc không hiểu văn bản các em ghi bừa: truyện ngắn (nếu là 1 đoạn văn xuôi) hoặc thơ thì tỉ lệ trúng cao hơn (đây là phương pháp lụi bừa nên các em không nên lạm dụng nhé)
Bảng hệ thống kiến thức thể loại (bắt buộc nhớ)
Phân loại
Thể loại
Đặc điểm
Ví dụ
Truyện trung đại
Truyền kì
Các tác phẩm thơ trong văn học trung đại, thường có cách xứng hô đặc biết: Nàng/ chàng/ thiếp…Sử dụng nhiều ngôn ngữ trung đại, cách ví von sử dụng nhiều điển cố, điển tích
Bài:Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rối. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
Truyện hiện đại
Truyện lịch sử
Là tác phẩm kể lại về các nhân vật lịch sử trong quá khứ, được các nhà văn viết lại mang bóng dáng của người anh hùng khi xưa, hay liên quan tới các trận chiến, gươm, đao, nhân vật sử dụng ngôn ngữ Trung đại: tôi/ vua/ thần/lính...
Bài: Lá cờ thuê sáu chữ vàng(Nguyễn Huy Tưởng)
Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ đã để cho chàng đứng đấy từ sáng. Nay thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói: Quân pháp vô thân, Hầu không có phận sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc. Nhược bằng khinh thường phép nước, anh em tất phải chiếu theo thượng lệnh.
Truyện ngắn
(hay thi)
Là một tác phẩm văn chương có cốt truyện ngắn gọn, tập trung vào một sự kiện hay một đoạn thời gian ngắn trong cuộc sống của các nhân vật. Truyện ngắn thường có ít nhân vật và gắn kết nhanh chóng, với một cái kết súc tích.
⇒Mẹo: có nhân vật, có 1 chuỗi các sự việc và dẫn đến 1 kết thúc
Bài: Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam)
Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng khôg bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bévẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.
Tiểu thuyết
Là một loại tác phẩm văn chương dài, thường bao gồm nhiều nhân vật và có cốt truyện phức tạp và có thể kéo dài qua nhiều chương.
Mẹo: thường ở phần trích nguồn họ sẽ hay để “trích trong chương/phần…” ⇒ta xác định được ngay là tiểu thuyết
Bài: Hoàng tử bé (antoine de saint-expéry)
Hồi lên sáu, có lần tôi đã nhìn thấy một bức tranh tuyệt đẹp trong một cuốn sách nói về Rừng hoang nhan đề Những chuyện có thật. Nó vẽ một con trăn đang nuốt một con thú. Đây là bản sao của bức tranh đó. Người ta nói trong sách: Con trăn nuốt chửng cả con mồi mà không nhai. Sau đó nó không thể nhúc nhích được nữa và nó nằm ngủ sáu tháng liền trong khi chờ tiêu hoá.
Truyện khoa học viễn tưởng
Là thể loại truyện hư cấu, tưởng tượng của người viết dựa trên tri thức khoa học. Với nền tảng là những lí thuyết khoa học nên có những giả tưởng trong truyện khoa học viễn tưởng có thể thành sự thật: Con vật khổng lồ, cỗ máy hiện đại…
Mẹo: là loại văn xuôi tả những điều vô lý, ảo tưởng
Bài: Hai vạn dặm dưới đáy biển (Jules Verne, 1870),
Nó lao vào các khối thịt đó mà chém thành hai khúc đầy máu đỏ lòm. Đuôi cá đập vào vỏ tàu rất mạnh nhưng chẳng hề gì. Diệt xong con này, tàu lại xông đến con khác, lúc chạy tới, lúc chạy lui, lúc ngoan ngoãn tuân theo bàn tay hoa tiêu lặn xuống sâu để dượt theo kẻ địch, lúc lại nổi lên mặt biển, khi tấn công chính diện, khi thì đánh ngang sườn. Mũi tàu băm vằm lũ cá một cách đáng sợ. Trên mặt biển nổi lên tiếng ầm ầm như sấm, tiếng rít, tiếng rống của loài cá khi giãy chết! Đuôi cá quẫy mạnh làm mặt biển trước đó phẳng lặng giờ sủi bọt lên như chảo nước sôi.
Bút kí
Là thể loại văn chương ghi lại những suy nghĩ, trải nghiệm cá nhân, và quan sát của tác giả về cuộc sống hàng ngày. Bút kí thường không có cốt truyện rõ ràng, tập trung vào việc miêu tả và phân tích cảm xúc, ý kiến và quan điểm cá nhân.
Bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Tuỳ bút
Là một thể loại văn chương tự do, tác giả có thể viết về bất kỳ chủ đề nào mà họ muốn, không bị ràng buộc bởi hình thức hay cấu trúc nghiêm ngặt.
Bài: Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), “Chuyện cơm hến”(Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Tản văn
Là lối viết chú trọng ghi lại những gì người viết đã trải qua, nghe thấy, nhìn thấy, cảm thấy để thể hiện được tình cảm, ý nghĩ mang màu sắc cá nhân, là thể loại phi hư cấu (không có yếu tố hư cấu) trong khi truyện ngắn cho phép người viết được hư cấu ngay cả khi câu chuyện dựa trên một số yếu tố có thật.
Bài: Bản tin về hoa anh đào (Nguyễn Vĩnh Nguyên)
Kịch
Hài kịch
Hài Kịch là xung đột trong lời nói và hành động, gây ra tiếng cười cho người khác.
Mẹo: các nhân vật đối thoại với nhau, đọc xong ta thấy vui
Bài: Trưởng giả học làm sang, Lão hà tiện
Bi kịch
Nhân vật có xung đột gay gắt giữa những khát vọng cao đẹp của con người với tình thế bi đát của thực tại dẫn tới sự thảm bại hay cái chết của nhân vật.
Mẹo: Các nhân vật đối loại với nhau, đọc xong ta thấy buồn
Bài: Romeo và Giu liet, Lơxit
Thơ trung đại
Thất ngôn tứ tuyệt đường luật
Số câu trong bài: 4 câu
Số chữ trên 1 câu: 7 chữ
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
(Chiều tối – HCM)
Thất ngôn bát cú đường luật
Số câu trong bài: 8 câu
Số chữ trên 1 câu: 7 chữ
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
(Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan)
Thơ dân tộc
Lục bát (hay thi)
Câu trên: 6 chữ
Câu dưới: 8 chữ
⇒Liên hoàn, lặp đi lặp lại đến hết bài
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quânKhuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
(Rằm tháng Giêng – Hồ Chí Minh)
Song thất lục bát
Song thất tức là hai câu 7 chữ rồi đến cặp lục – bát cứ như vậy đến hết bài.
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằngthuyền
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi taylại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
(Trích Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)
Thơ hiện đại (hay thi)
4 chữ
4 chữ 1 dòng đến hết
Mắt cô sưởi ấm
Tâm hồn trong em
Khuôn mặt ngây thơ
Loà nhoà mắt ướt
(không tên)
5 chữ
5 chữ 1 dòng đến hết
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
(Sóng – Xuân Quỳnh)
6 chữ
6 chữ 1 dòng đến hết
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
con về rợp bướm vàng bay
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
7 chữ
7 chữ 1 dòng đến hết
Con ngoan nghĩa nặng vui lòng bố
Cháu giỏi tình thâm thỏa dạ bà
Cuộc sống tuy còn nhiều trắc trở
Tin rằng trái ngọt vẫn phần ta.
(Gia đình hạnh phúc- Hoàng Nguyên)
Tự do
Không quy định số chữ trong 1 câu
Đi thôi em, đi để cảm nhận, đi để mà yêu
Đi ngắm mùa trăng liêu xiêu
Nhớ thời mười tám
Đi thôi em, đường xa lắm, đời đâu xa lắm
Một cái quay lưng đã bạc mái đầu..
(Không tên – Huỳnh Minh Nhật)
II. Dạng câu hỏi xác định câu chủ đề của văn bản
* - Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn chúng ta cần xác định xem đoạn văn đó trình bày theo cách nào. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch thì câu chủ đề thường ở đầu đoạn. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn.
* - Còn đoạn văn trình bày theo cách T-P-H ,song hành hay móc xích thì câu chủ đề là câu có tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn. Câu đó có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trong đoạn văn.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định hình thức đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân- hợp ….
Mẹo: căn cứ vào vị trí câu chủ đề (ở: đầu đoạn→diễn dịch, cuối đoạn→quy nạp, Đầu-cuối→tổng phân hợp)
Bước 2: Câu chủ đề của đoạn trích là:…(chép đủ/nguyên văn cả câu )
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con, thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước, Là mỗi lần thất bại, mọi thứ xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát. Có người có thể ôm con để con khóc một trận thật to, nức nở, như trút hết những tủi thân ấm ức mà còn phải chịu đựng rồi vỗ về con: Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi! Là mỗi lần đổ vỡ, cãi nhau rồi chia tay... Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh phúc thực sự là như thế nào?...
(Nguồn: https://www.cuasotinhyeu.vn)
⇒ Câu chủ đề của đoạn trích là: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó khăn hơn.
III. Dạng câu hỏi xác định nội dung chính của văn bản
* - Muốn xác định được nội dung của văn bản học sinh cần căn cứ vào tiêu đề của văn bản. Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn câu thơ được nhắc đến nhiều lần. Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản
* - Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là học sinh cần phải xác định được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc xích hay song hành…Xác định được kiểu trình bày đnạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào.
* -Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn. Xác định bố cục của đoạn cũng là căn cứ để chúng ta tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó (chú ý đôi khi không phải cứ câu chủ đề là mang nội dung chính mà còn phải căn cứ vào các từ ngữ, hình ảnh, nhanh đề, chi tiết được lặp đi lặp lại nhiều lần , ý nghĩa bao hàm toàn bộ nội dung của văn bản nữa nhé).
CÔNG THỨC:
Bước 1: Đọc nhan đề + đọc văn bản để tóm tắt thành một câu khái quát nội dung bề mặt (căn cứ vào nhan đề/cụm từ khóa, hình ảnh được lặp lại, câu chủ đề…)
Bước 2: Qua đó tác giả bộc lộ/gửi gắm thông điệp….(nội dung ngầm)
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con, thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước; Là mỗi lần thất bại, mọi thứ xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát... Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh phúc thực sự là như thế nào?
⇒ Nội dung chính của văn bản là: Lời tâm tình dạy bảo của người cha dành cho người con về những cung bậc khác nhau của hạnh phúc với những biểu hiện đa dạng và giá trị của hạnh phúc gắn với thời điểm khi con đã lớn khôn. Qua đó tác giả muốn gửi gắm thông điệp phải biết tự tin, cố gắng vững bước trên đôi chân của mình trong chặng đường đi tìm hạnh phúc.
IV. Dạng câu hỏi đặt nhan đề
- Văn bản thường là một chỉnh thể thống nhất về nội dung, hài hòa về hình thức. Khi hiểu rõ đươc văn bản, học sinh dễ dàng tìm được nhan đề cũng như nội dung chính của văn bản
- Đặt nhan đề cho văn bản chẳng khác nào người cha khai sinh ra đứa con tinh thần của mình. Đặt nhan đề sao cho đúng,cho hay không phải là dễ. Vì nhan đề phải khái quát được cao nội dung tư tưởng của văn bản , phải cô đọng được cái thần, cái hồn của văn bản .
- Học sinh chỉ có thể đặt tên được nhan đề cho văn bản khi hiểu được nó. Vì thế học sinh đọc văn bản để hiểu được ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan đề. Nhan đề của văn bản thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong văn bản
CÔNG THỨC:
Bước 1: Phải xác định được từ khoá/ nội dung của văn bản.
Yêu cầu: + Dạng: từ/ cụm từ/ câu (ngắn gọn)
+ Có tính khái quát, thể hiện nội dung của văn bản.
Bước 2: Nhan đề của văn bản là:….(tên nhan đề)
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con, thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước, Là mỗi lần thất bại, mọi thứ xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát. Có người có thể ôm con để con khóc một trận thật to, nức nở, như trút hết những tủi thân ấm ức mà còn phải chịu đựng rồi vỗ về con: Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi! Là mỗi lần đổ vỡ, cãi nhau rồi chia tay... Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh phúc thực sự là như thế nào?...
(Nguồn: https://www.cuasotinhyeu.vn)
⇒ Từ khoá: Hạnh phúc, đối tượng: người con. Nội dung: Lời nhắn nhủ của cha với con về hạnh phúc trong cuộc sống.
⇒ Nhan đề của văn bản là: Hạnh phúc/ Giá trị của hạnh phúc/ Hạnh phúc của con…
V. Dạng câu hỏi xác định ngôi kể
Ngôi
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ 3
Đ.điểm
Người kể
Người kể tham gia vào nội dung cốt truyện, là 1 nhân vật trong truyện
Người kể dứng ngoài, không tham gia vào nội dung cốt truyện (còn gọi là người kể giấu mình/người kể truyện toàn trí)
Dấu hiệu
Xưng: tôi,ta, tớ, tao, mình…
Gọi nhân vật bằng tên của nó: bọn nó, chúng nó, cô ấy, người ta…
Tác dụng
Làm cho người đọc nắm bắt tâm trạng nhân vật sâu sắc, sinh động, chân thật và gần gũi hơn.
Biết rõ mọi việc trong thế giới truyện, lời kể mang tính khách quan.
- Dạng xác định ngôi kể là 1 dạng câu hỏi dễ nhưng học sinh thường bị nhầm lẫn do không được luyện nhiều và không nắm vững kiến thức lý thuyết.
- Trong quá trình học tập, giảng dạy thầy cô và các em học sinh nên chú ý học thật thuộc+luyện nhiều do đề vào 10 cũng hay hỏi.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định người kể là ai?
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi ấy.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là:…
Ví dụ 1: Vua và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc, nhưng vua vẫn còn muốn thử cho đến cùng. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, bỗng có sứ nhà vua mang tới một con chim sẻ và lệnh chỉ bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé bảo cha lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:
– Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.
Vua nghe nói, từ đó mới phục hẳn.
Bước 1: Xác định người kể là ai?
=>chưa xác định được
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi ấy.
– Gọi tên nhân vật bằng chính tên của họ (vua, thằng bé, hai cha con, sứ giả, chim sẻ…)
=> người kể không phải là một nhân vật trong truyện.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là: ngôi 3.
Ví dụ 2: Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Ðôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Ðôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã.
Bước 1: Xác định người kể là ai?
⇒ Dế Mèn.
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi ấy.
⇒Tôi.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là: thứ nhất.
VI. Dạng câu hỏi xác định từ ngữ/hình ảnh biểu đạt nội dung trong văn bản
- Phần này trong đề thi thường hỏi anh,chị hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình ảnh, một câu văn nào đó có sẵn trong văn bản.
- Vì thế học sinh đọc kĩ đề, khi lý giải phải bám sát vào văn bản để trả lời.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định rõ yêu cầu, nội dung của câu hỏi.
Bước 2: Tìm, gạch chân từ ngữ/ hình ảnh/ chi tiết. (đáp án nằm trong văn bản)
Bước 3: Các từ ngữ thể hiện…..trong văn bản là:….(chỉ ra chính xác từ ngữ, hình ảnh, chi tiết-liệt kê ra cho bằng hết.)
Ví dụ: Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò…sung chát…đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Hãy chỉ ra những chi tiết thể hiện hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ trên ?
⇒ Các từ ngữ thể hiện hình ảnh người mẹ giản dị được khắc họa qua những chi tiết trong văn bản là: không có yếm đào, nón mê, tay bí tay bầu, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu, câu ca mẹ hát, lời mẹ ru.
VII. Dạng câu hỏi xác định phương thức lập luận
Tiêu chí
Nội dung
Ví dụ
Diễn dịch
-Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn, những câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ chủ đề của đoạn văn.
-Mô hình:
Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, cao quý (1). Suốt chín tháng mười ngày, mẹ mang nặng đẻ đau, để rồi đến khi đứa con cất tiếng khóc chào đời cũng là lúc lòng mẹ thấy hạnh phúc nhất (2). Mỗi khi ta ốm đau, mẹ đã thức suốt đêm thâu chăm sóc ta, lặng lẽ quan tâm mà chưa bao giờ mẹ kể(3). Mẹ sẵn sàng nén nước mắt vào trong, chịu bao đắng cay của cuộc đời để nuôi ta khôn lớn, thành người (4). Khi ta vấp ngã trước con đường đời, mẹ vỗ về động viên, an ủi chúng ta (5).
=>Câu chủ đề là câu số 1. Các câu 2,3,4,5 lần lượt đưa ra các ý để làm sang tỏ câu chủ đề (chứng minh câu chủ đề là đúng)
Câu chủ đề : “Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, cao quý” vì :
+Mẹ mang nặng, đẻ đâu sinh ra ta
+ Mẹ luôn chăm sóc, quan tâm ta
+ Mẹ hi sinh nuôi lớn ta thành người
+Luôn là người động viên, an ủi ta
Quy nạp
- Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ đó mới khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
-Mô hình:
Những đứa con từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ cha (1). Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau…(2). Với việc nhận thức thông qua quá trình bé tự quan sát, học hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc biệt các đức của người mẹ, đã hình thành dần dần bản tính của đứa con theo kiểu “mưa dầm, thấm lâu” (3). Ngoài ra, những đứa trẻ thường là thích bắt chước người khác thông qua những hành động của người gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ (4). Chính người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình(5).
=>Câu chủ đề là câu số 5, các câu 1,2,3,4 đi trước nhằm liệt kể ý để câu chủ đề khái quát lại nội dung
Song song
(Song hành)
- Đoạn văn không có câu chủ đề, các câu trong đoạn có nội dung khác nhau, nhưng cùng hướng tới một chủ đề.
* Mô hình:
- Văn chương là đời sống ghi trên giấy (1). Và dù thông minh bực nào, cũng phải có sống mới hiểu được đời, mới hiểu được văn(2). Không lịch lãm nhiều thì làm sao tưởng tượng được những cảnh tả trong sách mà thấy nó hay?(3). Không đau khổ nhiều thì làm sao thấu rõ được những tình tiết kể trong truyện mà thấy nó khéo? (4)
=> Các câu ngang hang nhau, mỗi câu triển khai một ý. Không có câu chủ đề
Phối hợp
(Tổng-phân -hợp)
-Đoạn văn mở đẩu bằng câu chủ để, tiếp đó là những câu triển khai các nội dung cụ thể. Cầu cuối của đoạn cũng là một cầu chủ đễ, khái quát lại nội dung của các câu triển khai. (Câu chủ đề cuối thông thường mang tính mở rộng của câu chủ đề đầu).
-Mô hình:
“Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người(1). Hiện nay trên khắp đất nước ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những bà mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng(2). Đảng và Nhà nước cùng toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách(3). Thương binh được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc tận tình….(4).Không thể nào kể hết những biểu hiện sinh động, phong phú của đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta(5). Đạo lí này là nền tảng vững vàng để xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp(6).”
è Câu chủ đề là câu số 1 và câu số 7
Mẹo: đề thi không bao giờ hỏi dạng: song hành, móc xích
Bước 1: Tìm câu chủ đề, xem câu chủ đề đặt ở đâu (ở đầu đoạn→diễn dịch, cuối đoạn→quy nạp, đầu+cuối đoạn→ tổng phân hợp)
Bước 2: Phương thức lập luận trong văn bản là:…
* Theo cô thấy giờ yêu cầu các tỉnh cũng ít ra dạng này đối với chương trình mới
VIII. Dạng câu hỏi xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng (nhắc lại 3 lần: phải thật chuyên nghiệp dạng này, học thật kĩ, đề thi nào cũng có)
Biện pháp TT
Khái niệm
Tác dụng
1. So sánh
So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ:
Công cha như núi Thái Sơn
A B
Con đi trăm núi ngàn khe
⇒ So sánh: “Công cha” với núi Thái sơn
-So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động.
-So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng. Vì thế trong thơ thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.
CÔNG THỨC: A LÀ/TỰA NHƯ/NHƯ/KHÁC/HƠN/KÉM….B
Biện pháp TT
Khái niệm
Tác dụng
2. Nhân hóa
Nhân hóa là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.
Ví dụ 1:
Sông được lúc dềnh dàng
A B
Chim bắt đầu vội vã
A B
⇒Ở đây sự vật là “Sông” và “Chim” mang đặc điểm về trạng thái, suy nghĩ của co người “Dềnh dàng, vội vã”
Ví dụ 2:
Đã ngủ chưa hả trầu?
Tao hái vài lá nhé
Cho bà và cho mẹ
Đừng lụi đi trầu ơi!
èỞ đây sự vật là “trầu” mang hành động “ngủ” và được gọi như con người “Nhé, trầu ơi”
- Làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động gợi cảm.
- Làm cho thế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn.
CÔNG THỨC: CT: A (chỉ vật) B (chỉ người)
Biện pháp TT
Khái niệm
Tác dụng
3. Ẩn dụ
Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
⇒”Mặt trời” trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thực của tự nhiên. “Mặt trời” ở câu thứ 2 là chỉ Bác. Vậy hình ảnh “mặt trời” trong câu thơ thứ 2 ẩn dụ, lấy đặc điểm của mặt trời tự nhiên là sáng, bất diệt, đem lại sự sống cho muôn loài để chỉ sự vĩnh hằng, bất diệt trong trái tim con người Việt Nam, đem lại tự do cho dân tộc của Bác.
⇒Ẩn dụ: so sánh hai sự vật khác xa nhau (mặt trời – Bác), không liên quan đến nhau nhưng giống nhau ở một đặc điểm nào đó (Đem lại sự sống, vình hằng…)
- Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức mạnh của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm. Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức diễn đạt khác nhau.
CÔNG THỨC: A như B (so sánh ngầm; A có đặc điểm như B)
Biện pháp TT
Khái niệm
Tác dụng
4. Hoán dụ
Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ:
Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
onthicaptoc.com Tai lieu chuyen sau on thi vao vao 10 nam 25 26
( Năm học 2023-2024)
I. Thời gian làm bài: 90 phút
ĐỀ LUYỆN SỐ 1
Môn: Ngữ văn lớp 10
KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 1
Đề 1. Viết bài văn nghị luận (400 – 600) từ thuyết phục người khác từ bỏ thói quen ghen tị (so sánh, đố kị) với người khác.
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
SỨC CỎ
VĂN BẢN 1
THẦN TRỤ TRỜI
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đọc đoạn trích sau:
Bây giờ là buổi trưa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.