onthicaptoc.com
GIÁO ÁN DẠY THÊM VĂN 8 KNTT BÀI 1: CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
* Xác định được người kể chuyện ngôi thứ ba, nhận biết được các chi tiết miêu tả hình dáng, cử chỉ, lời nói, suy nghĩ của các nhân. Từ đó, hình dung được đặc điểm của từng nhân vật.
* Nhận biết được những đặc điểm cơ bản làm nên sức hấp dẫn của truyện lịch sử: Nhân vật lịch sử, (ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ của nhân vật), sự kiện lịch sử.
* Nhận biết và phân tích được đặc điểm của nhân vật Trần Quốc Toản.
* Nêu suy nghĩ về lòng yêu nước của người anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản và cách thể hiện lòng yêu nước trong thời đại ngày nay.
* Giúp học sinh rèn luyện bản thân phát triển các phẩm chất tốt đẹp: Lòng yêu nước, sự can đảm, cương trực.
B. NỘI DUNG
ÔN TẬP VĂN BẢN: LÁ CỜ THÊU 6 CHỮ VÀNG
(Trích Nguyễn Huy Tưởng)
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
* Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là cha đẻ của những vở kịch nổi tiếng như: Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Sống mãi với Thủ đô…
* Nguyễn Huy Tưởng được sinh ra trong một nhà Nho ở làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc xã Dục Tú huyện Đông Anh, Hà Nội.
* Năm 1930, ông tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng. Năm 1935 ông làm thư ký nhà Đoan (Thuế quan) ở Hải Phòng, sau đó quay về Hà Nội. Năm 1938 ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào hướng đạo sinh ở Hải Phòng. Năm 1943 ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng. Sau đó ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội, Nam Định và Phúc Yên.
* Tháng 7, ông được bầu là Phó thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam. Tháng 12 năm 1946, toàn quốc kháng chiến, ông tổ chức và đưa Đoàn văn hóa kháng chiến lên Việt Bắc. Tiếp tục hoạt động văn hóa, ông là ủy viên Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, thư ký toà soạn Tạp chí Văn nghệ và tham gia tiểu ban Văn nghệ Trung ương Đảng. tai liệu của nhung tây
* Nguyễn Huy Tưởng là người sáng lập và giám đốc đầu tiên của nhà xuất bản Kim Đồng.
* Phong cách sáng tác
* Mặc dù đến với văn chương khá muộn, không có được yếu tố thiên bẩm thế nhưng với sự cố gắng không ngừng nghỉ cùng đam mê của bản thân Nguyễn Huy Tưởng đã gặt hái được rất nhiều thành công trong sự nghiệp văn chương. Văn của ông luôn mộc mạc, giản dị và gần gũi với cuộc sống con người.
* Trong những trang văn của Nguyễn Huy Tưởng luôn chất chứa đầy chất thơ của cuộc sống cùng với đó là những bài ca về tình yêu thương con người, đồng loại. Nguồn cảm hứng lớn nhất trong các tác phẩm của ông thiên về khai thác lịch sử. Ông viết văn để thể hiện tinh thần yêu nước.
* Nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng có tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài được trích trong Vở kịch Vũ Như Tô.
* Quan điểm sáng tác của tác giả: “Phận sự một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi.”
Giáo dục học sinh: Qua cuộc đời của tác giả chúng ta thấy được để đạt được nhiều thành tựu như vậy, Nguyễn Huy Tưởng đã nỗ lực không ngừng nghỉ vơi quan niệm bày tỏ lòng yêu nước bằng cách yêu ngôn ngữ dân tộc. Trong mỗi tác phẩm của ông luôn chan chứa lòng yêu nước bất diệt. Qua cuộc đời của mỗi nhà văn, hi vọng rằng các em sẽ học được nhiều phẩm chất tốt đẹp, học tập được phong cách sáng tác của mỗi nhà văn để làm cho ngòi bút của bản thân trở nên đa dạng hơn, phong phú hơn.
2. Tác phẩm:
- “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” viết về vị anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản, được xem là tác phẩm văn học kinh điển dành cho thiếu nhi của tác giả Nguyễn Huy Tưởng. Ông gắn liền với các bộ dã sử lấy cảm hứng từ chính dân tộc như: Vĩnh Biệt Cửu đài trùng, Đêm hội Long Trì, An tư công chúa.
* Câu chuyện bắt đầu bằng giấc mơ của Hoài Văn (Trần Quốc Toản), chàng mơ thấy bắt được Sài Thung, một tên sứ nhà Nguyên hống hách. Tại hội nghị Bình Than (10/1282), trong lúc vua và triều thần đang bàn việc nước, Quốc Toản đã bất chấp tội phạm thượng tới gặp nhà vua và nói lên lời tâm huyết “xin đánh”. Nhà vua đã không trừng phạt cậu mà còn ban thưởng một quả cam, làm Quốc Toản càng thêm uất ức và bóp nát quả cam lúc nào không biết. Khi về Võ Ninh dưới lá cờ “Phá cường địch báo hoàng ân” mà Quốc Toản đã tìm tòi suy nghĩ, Quốc Toản đã chiêu mộ được sáu trăm tân binh tinh nhuệ, đi tìm giặc đánh. Lên phía Bắc, đoàn quân Quốc Toản họp với quân người Mán do Nguyễn Thế Lộc chỉ huy, lập ra Ma Lục, gây thanh thế khắp vùng Lạng Sơn. Sau lần đó, Quốc Toản chính thức được nhà vua thừa nhận và giao nhiệm vụ quan trọng trận đánh giặc trên cửa song Hàm Tử với lời thề Sát Thát. Trần Quốc Toản đã chiến đấu anh dũng và chiến thắng vẻ vang. Đi đến đâu cũng lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân” căng thổi trong gió hè lộng thổi.
II. PHÂN TÍCH VĂN BẢN
1. Bối cảnh lịch sử
* Giặc Nguyên lăm le xâm lược nước ta.
* Vua mở hội nghị Bình Than để lấy ý kiến của các quan và các bô lão hòa hay đánh và bàn kế sách đối phó với giặc Nguyên.
* Trần Quốc Toản còn nhỏ tuổi nên không được tham gia.
* Quang cảnh ở hội nghị Bình Than: Những chiếc thuyền lớn xung quanh đậu dài san sát nhau, những lá cờ bay phấp phơi trên mui thuyền.
* Không khí: trang nghiêm.
Tầm quan trọng của hội nghị, tình hình quốc gia đang cấp bách.
-Nội dung chính: Văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng nói về Hoài Văn dù tuổi còn nhỏ, nhưng chàng đã ý thức được bổn phận của một đấng nam nhi thời loạn, ngay trong cả giấc mơ cũng mong được giết giặc giúp nước.
* Tóm tắt: Câu chuyện được mở đầu với “một giấc mơ thú vị” của cậu thanh niên Trần Quốc Toản. Trong mơ, cậu thấy được chính mình đã bắt sống tên sứ thần hống hách Sài Thung của nhà Nguyên. Giấc mơ như là điềm báo cho một người có ý chí phi thường, tuy tuổi nhỏ, nhưng đã nhận thức được sứ mệnh cao cả của mình. Khi nghe nghóng được vua Trần Nhân Tông sẽ tới bến Bình Than họp bàn việc nước, cậu thanh niên nhỏ ấy đã quyết định cùng ngựa xuất phát đến gặp nhà vua. Trần Nhân Tông rất vừa ý với cậu nhóc này, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên chỉ được vua thưởng cho cam quý, còn việc nước thì chưa cho dự. Trần Quốc Toản cảm thấy rất thất vọng, ấm ức, vừa đi vừa nghiến chặt răng, không biết từ bao giờ quả cam trong tay đã bị bót nát. Kể từ khi ấy, Trần Quốc Toản quyết tâm học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ. Khi nghe tin quân giặc kéo đến, với lá cờ mang sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” Quốc Toản cùng nhiều tráng sĩ anh dũng chiến đấu. Cuối cùng tin vui thắng trận về khắp bản làng, ai nấy đều reo hò vui mừng, mẹ Trần Quốc Toản nghẹn ngào xúc động khi thấy lá cờ sáu chữ đỏ chính tay mình thêu đang phấp phới bay cao.
2. Nhân vật Trần Quốc Toản
+ Xuất thân: Chàng thiếu niên trẻ tuổi thuộc dòng dõi nhà Trần, cháu ruột của Chiêu Thành Vương.
+ Suy nghĩ:
* Về bản thân: Cha ta mất sớm nên ta phải đứng rìa nhịn nhục thế này;
* Về tình hình thế giặc: dám chắc...dã tâm của quân giặc đã hai năm rõ mười...; nó giả tiếng mượn đường, kì thực là để cướp lấy nước Nam...
+ Tâm trạng: Quên không ăn uống, đói cồn cào, mắt hoa lên...buồn bã...không chịu được nữa; muốn hét to...
+ Hành động: ruổi ngựa đi tìm vua; xô lính...;xăm xăm xuống bến... tuốt gươm, mắt trừng lên... mặt đỏ bừng bừng quát lớn... vung gươm... giằng co...
+ Lời nói: Không buồn ra, ta chém. Cháu biết là mang tội lớn....
Ai chủ hòa.... Dâng giang sơn. ?
+ Tính cách: Cương trực, thẳng thắn, dũng cảm, nhanh trí.
* Trần Quốc Toản bóp nát quả cam
* Chi tiết: Hoài Văn đỡ lấy quả cam chỉ còn trơ bã.
- Ý nghĩa: Chi tiết bất ngờ, hấp dẫn. Hoài Văn tức giận vì sự cười nhạo, coi thường của người khác. Đồng thời, thể hiện lòng căm thù, ý chí quyết tâm đánh giặc để chứng tỏ cho triều đình biết rằng lòng yêu nước không phân biệt tuổi tác.
+ Thể hiện lòng yêu nước: Góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, tự hào truyền thống văn hóa, lịch sử, quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới...
Trần Quốc Toản không chỉ thể hiện nhiệt tình cao quý ấy bằng lời, mà còn tự nguyện thể hiện nó bằng hành động, trước hết bằng cử chỉ đã được ghi lại sáng ngời trong lịch sử sách; sức phẫn nộ, chí diệt thù đã chuyển một phần thành năng lượng bóp nát quả cam vua ban trong tay lúc nào không biết!
Lòng yêu nước mỗi thời đại được thể hiện khác nhau, vì vậy hãy thể hiện lòng yêu nước phù gợp với lứa tuổi và thời đại lịch sử.
2. Nhân vật Hoài Văn
* Thái độ của Hoài Văn khi thấy các vương hầu bàn việc nước
* Khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước, Hoài Văn dám chắc các vị có ý cho quân Nguyên mượn đường vào đánh Chiêm Thành hoặc chống cự lại. Trong ý nghĩ, chàng muốn được xuống thuyền rồng bàn việc nước, quỳ trước mặt và xin quan gia cho đánh.
* Nếu Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép thì sẽ thành phạm thượng và có thể phải chịu tội chết.
Giải thích về hành động của mình, Hoài Văn tự biết mình mang tội lớn. Nhưng vì đất nước nguy nan, chàng cho rằng đến đứa trẻ cũng phải lo nghĩ. Vua lo thì kẻ bề dưới cũng cần phải lo.
=> Hoài Văn là một người anh hùng dũng cảm, gan dạ, muốn thể hiện bản lĩnh của mình, ý chí kiên cường, quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm “Xin Tiết chế cho cháu đi đánh trận này. Trận nào cháu cũng xin đi, huống chi là trận đầu”, “Cháu sẽ cùng tướng quân Nguyễn Khoái đánh cho Toa Đô mảnh giáp không còn.
3. Nhân vật vua Thiệu Bảo
* Vị vua ôn tồn, thấu hiểu, thông minh sáng suốt, biết nhìn người, biết trân trọng những tấm lòng của người trẻ giành cho đất nước. tai liệu của nhung tây
+ Vua Thiệu Bảo (vua Trần Nhân Tông): Đức vua Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh năm Mậu Ngọ - 1258 vào ngày 11 tháng 11 âm lịch. Ngài là con trưởng của Đức Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Sử sách ghi lại rằng khi Ngài mới sinh ra đã có dung mạo của bậc thánh nhân, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, sắc thái như vàng ròng, nên được vua cha đặt cho tên hiệu là Phật Kim.
Khi giặc Nguyên - Mông xâm chiếm Đại Việt, năm 1282, Ngài chủ trì hội nghị Bình Than để lấy ý kiến của toàn quân, toàn dân Đại Việt đoàn kết chống giặc ngoại xâm. Sau đó, Ngài đã trực tiếp lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông vào các năm 1285 và 1288.
+ Diễn biến tâm lí và thái độ, lời nói, hành động của vua Thiệu Bảo đối với Hoài Văn:
II. LUYỆN TẬP
1. Dạng bài tập trắc nghiệm Câu 1: Truyện lịch sử là gì?
A. Là tác phẩm truyện tái hiện những sự kiện, nhân vật ở một thời kì, một giai đoạn cụ thể.
B. Là những gì xảy ra trong quá khứ.
C. Là một chuỗi các sự kiện xảy ra trong hiện tại và tương lai.
D. Là tình hình chính trị của quốc gia, dân tộc.
Câu 2. Tác phẩm Lá cờ thêu 6 chữ vàng là của ai?
A. Nguyễn Trãi B. Nguyễn Huy Tưởng
C. Nguyễn Khuyến D. Nguyễn Huệ
Câu 3: Đâu là quê hương của Nguyễn Huy Tưởng?
A. Hồ Chí Minh. B. Nghệ An. C. Quảng Ninh. D. Hà Nội. Câu 4: Phong cách sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng?
A. Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử.
B. Nguyễn Huy Tưởng luôn hướng về những người nghèo, những người bất hạnh.
C. Nguyễn Huy Tưởng đề cao giá trị con người.
D. Nguyễn Huy Tưởng là nhà tư tưởng lớn, thấm sâu vào tư tưởng đạo lí nho gia.
Câu 5: Giặc Nguyên có âm mưu gì đối với nước ta?
A. Cấu kết với nước ta xâm chiếm nước khác. B. Thông thương với nước ta.
C. Giúp đỡ nước ta. D. Xâm chiếm nước ta. Câu 6: Trần Quốc Toản xin gặp vua để làm gì?
A. Để xin vua ra lệnh hòa hoãn. B. Để xin vua ra lệnh đầu hàng.
C. Để xin vua ra lệnh đánh giặc. D. Để xin vua ra lệnh rút lui.
Câu 7: Gặp được vua, Trần Quốc Toản đã nói gì với vua?
A. Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.
B. Xin quan gia suy xét! Cho giặc mượn đường là mất nước.
C. Xin quan gia cảnh giác! Cho giặc mượn đường là mất nước.
D. Xin quan gia cân nhắc! Cho giặc mượn đường là mất nước.
Câu 8: Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than?
A. Vô cùng ấm ức, vừa hờn vừa tủi. B. Vui mừng, hạnh phúc.
C. Buồn bã, do dự. D. Tất cả các đáp án trên đều sai.
Câu 9: Quang cảnh, không khí ở bến Bình Than - nơi diễn ra hội nghị quan trọng như thế nào?
A. Đầy những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư, các vị vương chức quyền cao nhất của triều đình, thuyền ngự, không khí trang nghiêm, tĩnh mịch.
B. Đầy những thuyền lớn nhỏ, cờ, hoa và biểu ngữ, không khí vui tươi, hân hoan.
C. Tấp nập người qua lại, nhộn nhịp, không khí mới lạ đầy thú vị.
D. Đầy những thuyền lớn của vua quan, không khí vui vẻ.
Câu 10: Tác phẩm khai thác những gương mặt tiêu biểu nào?
A. Thúy Kiều, Thúy Vân, Sở Khanh.
B. Sơn Tinh, Thủy Tinh.
C. Mị Châu, Trọng Thủy.
D. Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật.
Câu 11: Tại sao binh lính lại để cho Hoài Văn đứng ở bến Bình Than từ sáng?
A. Vì họ sợ Hoài Văn. B. Vì họ không quan tâm đến Hoài Văn.
C. Vì họ nể Hoài Văn là một vương hầu. D. Vì họ sợ vua chém đầu.
Câu 12: Hoài Văn có hành động gì khi không chịu được cảnh chờ đợi?
A. Liều mạng xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến.
B. Mắt trừng lên một cách điên dại: “Không buông ra, ta chém!”.
C. Mặt đỏ bừng bừng, quát binh lính.
D. Tất cả các đáp án trên đều đúng.
Câu 13: Hoài Văn giải thích như thế nào về hành động liều mạng của mình?
A. Khi có quốc biến, đến đứa trẻ cũng phải lo.
B. Vua lo thì thần tử cũng phải lo.
C. Tuy Hoài Văn chưa đến tuổi dự bàn việc nước nhưng chàng không phải giống cỏ cây nên không thể ngồi yên được.
D. Tất cả các đáp đều đúng.
Câu 14: Trong “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” có chi tiết vua Thiệu Bảo cầm lấy một quả cam sành chin mọng rồi ban cho Hoài Văn. Việc Hoài Văn vô tình bóp nát quả cam thể hiện điều gì?
A. Thể hiện chàng là người yêu nước, căm thù giặc.
B. Thể hiện chàng là một người có sức mạnh vô cùng to lớn.
C. Phản xạ tự nhiên của Hoài Văn.
D. Chàng không sợ vua.
Câu 15: Vì sao vua không những tha tội mà còn ban cho Quốc Toản cam quý?
A. Vì Quốc Toản là em trai vua nên có thể tha thứ được.
B. Vì vua cho rằng Quốc Toản còn nhỏ tuổi nên nông nổi.
C. Vì vua thấy Quốc Toản còn nhỏ mà có chí lớn.
D. Vì Quốc Toản thuộc tôn thất.
Câu 16: Thái độ của Trần Quốc Toản đối với quân Nguyên ra sao trước âm mưu xâm chiếm đất nước?
A. Vô cùng căm giận. B. Vô cùng xấu hổ.
C. Vô cùng sợ hãi. D. Vô cùng tủi nhục.
Câu 17. Lá cờ thêu sáu chữ vàng có ý nghĩa gì?
A. Phá cường địch, báo hoàng ân B. Phá giạc Mạnh đến ân vua
C. Ủng hộ nhà Trần D. Cả ba đáp án trên
2. Dạng bài Đọc Hiểu ngữ liệu SGK
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“Hoài Văní2) nằn nì thế nảo, quân Thánh Dực(3) cũng không cho chàng xuống bến. Hầu(4) đứng trên bờ, thẫn thờ nhìn bến Bình Than. Hai cây đa cổ thụ bóng râm mát che kín cả một khúc sông Dưới bến, những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư, đậu dài san sát, sơn đủ các màu. Trên mui thuyền, phất phới những lá cờ của Chiêu Minh Vương, của Chiêu Quốc Vương, của Chiêu Văn Vương, của Hưng Đạo Vương, của Chiêu Thành Vương, chú một mình. Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đinh đều ở gần thuyền ngự (Thuyền ngự cao lớn hơn cả, chạm thành hình một con rống lớn rực rỡ son vàng, hai bên mạn dàn bày cờ quạt, tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng(2 của đấng thiên tử* 2 (3). Hết thuyền của các đại vương, là thuyền của các tước vương bậc dưới, rồi đến thuyền của các tước hầu, cuối cùng là thuyền của các tướng sĩ đi hộ vệ. Mắt Hoài Văn đăm đăm nhìn thuyền của Hưng Võ Vương, Hưng Tú Vương, Hưng Hiếu Vương... Thì ra các con trai của Hưng Đạo Vương đều đủ mặt. Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha mất sớm nên ta phải đứng rìa nhục nhã thế này! Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn những lá cờ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa.”
(Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu 6 chữ vàng, NXB văn học, Hà Nội 1997, tr 11-19)
Câu 1. Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than? tai liệu của nhung tây
Câu 2. Khi bị quân Thánh Dực ngăn cản xuống bến gặp vua, Trần Quốc Toản có hành động gì khác thường? Vì sao Trần Quốc Toản có hành động như vậy?
Câu 3. Chứng kiến hành động và nghe lời tâu bày của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo có thái độ và cách xử lí như thế nào? Thái độ và cách xử lí đó cho thấy điều gì ở vị vua này?
Câu 4. Trong lời người kể chuyện đôi chỗ xen vào những ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trần Quốc Toản. Hãy nêu một vài trường hợp và phân tích tác dụng của sự đan xen đó.
Câu 5. Những nét tính cách nào của Trần Quốc Toản được thể hiện qua lời đối thoại với các nhân vật khác trong truyện? tai liệu của nhung tây
Câu 6. Trong truyện này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang đậm màu sắc lịch sử. Hãy nêu một số ví dụ và cho biết tác dụng.
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
Câu 1. Tâm trạng của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than là:
* Nôn nóng khi các em họ “những người em họ” ấy được tham dự họp bàn việc nước với nhà vua.
* Chàng lại nghĩ đến thân mình vì cha mất sớm, nên phải chịu cảnh đứng rìa nhục nhã.
Câu 2. Khi bị quân Thánh Dực ngăn cản xuống bến gặp vua, Trần Quốc Toản đã liều chết để gặp vua dù bị quân lính cản lại.
* Sở dĩ Trần Quốc Toản có hành động như vậy là vì lo cho vận mệnh của đất nước bởi bọn giặc đang hoành hành, dân chúng thì đói khổ.
Câu 3. Chứng kiến hành động và nghe lời tâu bày của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo có thái độ và cách xử lí:
+ Vua gật đầu mỉm cười nhìn Hưng Đạo Vương.
+ Vua tha tội, khuyên Quốc Toản về quê chăm mẹ.
+ Vua ban cho Quốc Toản cam quý vì thấy cậu còn trẻ mà đã biết lo việc nước.
* Thái độ và cách xử lí đó cho thấy vua Thiệu Bảo là một người hiền từ, anh minh và sáng suốt.
Câu 4. Trong lời người kể chuyện đôi chỗ xen vào những ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trần Quốc Toản ví dụ như: Chỉ có việc đánh, làm gì phải kéo ra tận đây để bàn đi bàn lại. Chao ôi! Lúc này mà Hoài Văn được xuống thuyền rồng và được bàn việc nước! Chàng sẽ quỳ trước mặt quan gia và in quan gia cho đánh. tai liệu của nhung tây
* Tác dụng: Làm nổi bật suy nghĩ của Trần Quốc Toản khi thấy các vương hầu đang họp bàn việc nước và tâm trạng nôn nóng, bồn chồn muốn xin vua đánh giặc.
Câu 5. Nét tính cách của Trần Quốc Toản được thể hiện qua lời đối thoại với các nhân vật khác trong truyện: Can đảm, dũng cảm, yêu nước.
Câu 6. Trong truyện này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang đậm màu sắc lịch sử. Ví dụ:
* Ngôn ngữ người kể chuyện: hội sư, thuyền ngự, đại vương, đấng thiên tử…
* Ngôn ngữ nhân vật: Quân pháp vô thân, vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo…
Tác dụng: Làm nổi bật khung cảnh cuộc họp của nhà Trần. Thể hiện tính cách gan dạ, quyết đoán của Trần Quốc Toản: Tuy tuổi đời còn trẻ nhưng có khí phách anh hùng, bộc lộ rõ qua từng suy nghĩ, hành động, cử chỉ. tai liệu của nhung tây
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
Dưới bến, những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư, đậu dài san sát, sơn đủ các màu. Trên mui thuyền, phất phới những lá cờ của Chiêu Minh Vương, của Chiêu Quốc Vương, của Chiêu Văn Vương, của Hưng Đạo Vương, của Chiêu Thành Vương, chú ruột mình. Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đinh đều ở gần thuyền ngự (1J. Thuyền ngự cao lớn hơn cả, chạm tới hình một con rồng lớn rực rỡ son vàng, hai bên mạn dàn bày cờ quạt, tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng (2 của đấng thiên tử* 2 (3).
Hét thuyền của các đại vương, là thuyền của các tước vương bậc dưới, rồi đến thuyền của các tước hầu, cuối cùng là thuyền của
các tướng sĩ đi hộ vệ. Mắt Hoài Văn đăm đăm nhìn thuyền của Hưng Võ Vương, Hưng Tú Vương, Hưng Hiếu Vương... Thì ra các con trai của Hưng Đạo Vương đều đủ mặt. Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn, Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn những lá cơ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa. Qua các cửa sổ có chấn song triện(4) và rủ mành mành hoa của thuyền rồng(5), Hoài Văn thấy các vương hầu đang ngồi bàn việc
nước với quan gia(6). Hoài Văn chẳng
Biết các vị nói gi. Nhưng bàn gi tlù bàn, Hoài Văn dám chắc cũng chẳng ngoài cái Việc lớn là cho quân Nguyên mượn đưòng vào đánh Chiêm Thành hay chống cự lại mà thôi. Dã tâm(7) của quân giặc đã hai năm rõ mười rồi. Nó giả tiếng mượn đường, ki thực là để cướp sống lấy nước Nam. Chỉ có việc đánh, làm gi phải kéo ra tận đây mà bàn di bàn lại? Chao ôi! Lúc này mà Hoài Văn được xuống thuyền rồng và được bàn việc nước! Chàng sẽ quỳ trước mặt quan gia, và xin quan gia cho đánh! Thuyền rồng im lặng. Tàn tán(8), cờ quạt và các đồ nghi trượng 111 màu son vàng tiên mặt nước sông trong vắt. Chốc chốc lại thấy những người nội thị quỳ ở ngoài mui, dàng trầu cau, dàng trà, dâng thuốc. Hoài Văn muốn xô mấy người lính Thánh Dực để chạy xuống bến nhưng lại sợ tội chém đầu.
* Chàng muốn thét to: “Xin quan gia cho đánh”, nhưng lại e phạm thượng(9)!
* Mấy tháng ở kinh, thấy sứ Nguyên hạch sách đủ điểu, Hoai Văn chỉ có một ý nghĩ là đánh, đánh để giữ lấy quốc thể(10). Rồi lại đến ngày quan gia mời các bô lão khắp bàn dân thiên hạ về kinh để nhà vua hỏi ý dân xem nên cho giặc mượn đường hay nên đánh lại. Các bô lão là những người quê mùa, chất phác, chưa bao giờ được bước chân vào noi lầu son gác tía, chưa bao giờ được bàn việc nước, thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khảng khái tâu lên: “Xin đánh!”, trăm miệng một lời, làm rung chuyển cả toà điện Diên Hồng. Những người áo vải ấy còn biết đường phải trái, huống clu ta là bậc tôn thất(1) há lại không nghĩ được như họ sao? Dền họ mà quan gia còn hỏi kế, sao ta là ngưòi gần gụi, quan gia chẳng hỏi một lời?
(Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu 6 chữ vàng, NXB văn học, Hà Nội 1997, tr 11-19)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Câu 2. Hoài Văn có những suy nghĩ gì khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước?
Câu 3. Điều gì sẽ xảy ra khi Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép?
Câu 4. Hoài Văn giải thích như thế nào về hành động của mình?
Câu 5. Trong truyện này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang đậm màu sắc lịch sử. Hãy nêu ví dụ và cho biết tác dụng.
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 2. Suy nghĩ của Hoài Văn: Lúc này mà được xuống thuyền rồng và được bàn việc nước, sẽ quỳ xuống trước mặt quan gia và xin quan gia cho đánh.
Câu 3. Khi Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép có thể sẽ phải chịu tội chết.
Câu 4. Hoài Văn giải thích về hành động của mình: Dù biết mang tội lớn, nhưng trộm nghĩ rằng khi quốc biến, đến đứa trẻ cũng phải lo, huống hồ bản thân đã lớn. Chưa đến tuổi dự việc nước nhưng không phải là cây cỏ mà đứng yên được. Vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo, được chú dạy bảo những điều trung nghĩa nên liều chết đến để góp một vài lời.
Câu 5. Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang đậm màu sắc lịch sử:
* Ngôn ngữ người kể chuyện: hội sư, thuyền ngự, đại vương, đấng thiên tử…
* Ngôn ngữ nhân vật: Quân pháp vô thân, vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo…
Tác dụng: Làm nổi bật khung cảnh cuộc hội họp trước cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai của nhà Trần. tai liệu của nhung tây Thể hiện được tính cách của các nhân vật đặc biệt là nhân vật Trần Quốc Toản: Tuy tuổi đời còn trẻ nhưng tính cách quyết đoán, gan dạ và khí phách anh hùng dòng dõi nhà Trần của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đã được bộc lộ rõ qua từng suy nghĩ, hành động, cử chỉ.
3. Ngữ liệu Đọc Hiểu ngoài SGK
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
... Thưa cha, con muốn được cha chỉ bảo chúng con về sự tích ngôi đền ni, về tên của các hòn núi kia, trông lạ mắt quá cha ạ.
Thấy con ham muốn tìm hiểu về cội nguồn, ông Sắc bước đến bên gốc cây tùng già, giở cơm nắm cho hai con ăn. Dưới bóng cây cổ thụ, ba cha con quan Phó bảng cùng nhìn về phía núi non biêng biếc trải tận chân trời xa, ông kể cho con nghe trọn câu chuyện tình sử My Châu - Trọng Thuỷ. Côn ngạc nhiên hỏi cha:
* Thành Cổ Loa ở mãi tận đâu, thưa cha?
Cha chưa đi tới đó, nhưng cha đọc sách thấy xa... xa lắm, con ạ. Khiêm lắc đầu, giọng hơi kéo dài:
* Người đời xưa có lẽ họ bịa chuyện chứ nàng Mỵ Châu kiếm đâu cho đủ lông ngỗng mà rải khắp con đường dài ấy cha?
Ông Sắc cười. Côn nói, vẻ thán phục:
Chuyện Mỵ Châu - Trọng Thuỷ hay tuyệt, tài tình lắm. Con nhận thấy vua nhà Triệu nước
Tàu nham hiểm ghê gớm. Chàng Trọng Thuỷ ngoan ngoãn làm theo mẹo của cha bày đặt.
Còn vua nhà Thục nước ta lại trọng chữ tín, thành thật muốn hai nước ở kề nhau có hoà hiếu để dân được sống yên ổn làm ăn. Nhưng vua nước ta lại không đề phòng sự gian giảo, bội ước của vua nhà Triệu. Nàng My Châu lại ruột để ngoài da. Cha vậy, con vậy thì giữ nước làm sao được? Nhưng câu chuyện lại cho thấy điều đáng trọng, không khinh được của vua Thục là: Người đã phải tự chém con gái mình và tự xử án mình bằng hành động nhảy xuống biển về tội để mất nước chứ không cam chịu nộp mình cho giặc.
(Trích Dọc đường xứ Nghệ SGK văn 7 CD)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên ?
Câu 2. Ý nghĩa những địa danh được nhắc tới trong đoạn trích?
Câu 3. Đoạn văn trên kể theo ngôi kể nào? Nêu tác dụng?
Câu 4. Những câu hỏi về các sự kiện lịch sử cho thấy Côn là cậu bé như thế nào?
Câu 5. Cách giáo dục con của cụ phó bảng cho thấy ông là người như thế nào?
Gợi ý trả lời
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 2. Các địa danh được nhắc tới trong đoạn trích có ý nghĩa gợi cho người đọc hình dung về nguồn gốc hình thành những địa danh đó.
Câu 2. Câu chuyện được kể theo ngôi kể thứ ba.
Ngôi kể này có tác dụng giúp người nghe kể chuyện một cách linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật
Câu 3. Những câu hỏi và sự lí giải về sự kiện lịch sử cho thấy Côn là cậu bé có tâm hồn yêu quê hương đất nước, ham muốn tìm hiểu về cội nguồn gốc gác.
Câu 4. Cụ Phó bảng giáo dục con tu dưỡng làm người thông qua các bài học lịch sử của ông cha. Cách giáo dục và chỉ bảo con của cụ cho thấy cụ Phó bảng là một người yêu nước, am hiểu lịch sử nước nhà. tai liệu của nhung tây Cụ luôn điềm tĩnh và nhẹ nhàng, dẫn dắt con vào các câu chuyện lịch sử để từ đó rút ra bài học làm người
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4
Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Quan Phó bảng Sắc hơi sững sờ nhìn hai con, nhìn ngôi đền thờ Thục Phán:
* Con nói đúng. Nước có lúc thịnh, lúc suy. Đó là điều thường thấy trong trời đất. Nhưng con người ta lại phải biết giữ trọn khí tiết. Vua Thục Phán thuộc loại đó. Con hãy để ý về phong cảnh núi non, đền đài. Con vừa hỏi cha về hòn núi kia giống một người cụt đầu. Người ta thường gọi nó là hòn Hai Vai hoặc là núi “Tướng quân rơi đầu” đó con ạ. Còn phía xa xa kia là hòn Trống Thủng. Từ hòn Trống Thủng, một dãy núi dài dằng dặc sát chân trời, đó là núi Cờ Rách.
Hai mắt Côn chơm chớp nhìn theo hướng tay chỉ của cha. Khiêm thì ngạc nhiên thốt lên:
* Ai tưởng tượng ra đầu tiên hình dáng các hòn núi nớ hẳn là mắt tiên, cha nhể?
* Từ lòng người mà suy ngẫm ra... con ạ. Người ta còn gọi vùng núi ấy là vùng Ba Hòn. Theo chuyện kể từ hồi xửa hồi xưa thì nước ta có giặc từ phương Bắc tràn vào, dân ở khắp miền đất nước ta nhất tề đứng dậy chống giặc giữ nước. Từ vùng Nghệ Tĩnh ni có một vị tướng kéo đại
binh ra Bắc đánh dư trăm trận, chẳng may trong một trận giáp chiến, con ngựa của ông vấp phải cọc, quy chân trước, bọn giặc xúm lại, ông bị một lát đại đao đi qua cổ, đầu rơi xuống đất. Ông nhoại người ra lấy được đầu lắp lên cổ và phi ngựa mở đường máu chạy trở về. Quân sĩ của ông cũng kéo cờ mở trống về theo. Trên đường về, vị tướng này đã gặp một ông lão tại phía bắc sông Mã (Thanh Hoá). Vị tướng dừng ngựa, hỏi:
* Thưa ông, từ xưa đã có người nào bị chặt đầu, lại chắp lên cổ được không?
* Thưa tướng quân, sống được ạ.
Vị tướng lại thúc ngựa phi về tới Diễn Châu, quân sĩ bủa ra tận vùng Yên Thành. Vị tướng gặp một bà già ở phía nam sông Bùng liền hỏi:
* Thưa cụ, xưa nay có người nào bị chặt đầu, lại tự mình chặp vào cổ mà vẫn sống được không? Bà cụ lắc đầu:
* Loài quỷ, loài yêu tinh thì mới có thể bị chặt đầu này mọc ra đầu khác, còn loài người thì nếu bị chặt đầu là chết.
Bà cụ vừa nói dứt lời, đầu vị tướng quân rơi xuống đất. Và ông đã hoá thành hòn núi Hai Vai. Ngựa của ông chạy thêm một đoạn lên vùng Yên Thành, hoá núi Mã Phục, tại làng Yên Mã. Trống, cờ cũng hoá thành núi Trống Thủng, núi Cờ Rách...
(Trích Dọc đường xứ Nghệ SGK Văn 7 CD kì I)
Câu 1. Phần đầu đoạn trích quan phó bảng khuyên hai cha con điều gì?
Câu 2. Đọan truyện trên giúp em hiểu gì về nhân vật cậu bé Côn?
Câu 3. Tại sao đang nói chuyện Thục Phán - An Dương Vương, nhân vật quan bảng lại chuyển sang nói về núi non quê hương với những hòn Hai Vai, Trống Thủng, núi Cờ Rách...?
Câu 4. Bài học mà nhân vật quan Phó bảng muốn nhắn nhủ hai con ở đây là gì?
Câu 5. Trong đoạn trích, quan Phó bảng đã giáo dục các con tu dưỡng làm người bằng cách nào? Em có nhận xét gì về tính cách của nhân vật quan Phó bảng?
Câu 6. Đoạn trích trên gợi cho em những suy nghĩa gì? tai liệu của nhung tây
Gợi ý trả lời
Câu 1. Phần đầu đoạn trích quan phó bảng khuyên hai cha con
- Nước có lúc thịnh, lúc suy. Đó là điều thường thấy trong trời đất. Nhưng con người ta lại phải biết giữ trọn khí tiết.
Câu 2. Cậu bé có tinh thần trọng nghĩa khinh tài, có cái nhìn lịch sử khách quan, tỉnh táo và trên hết là tấm lòng yêu nước, thương dân sớm hình thành từ truyền thống quê hương, gia đình ở cậu bé Côn.
Câu 3. Đang nói chuyện Thục Phán - An Dương Vương, quan Phó bảng lại chuyển sang nói về núi non quê hương với những hòn Hai Vai, Trống Thủng, núi Cờ Rách... là có ý muốn con mình hướng tới câu chuyện quê hương, nhớ tới những sự tích oai hùng của nhân dân mình hiện vẫn để lại dấu tích ngay trên quê hương, đất nước.
Câu 4. Bài học mà quan Phó bảng muốn nhắn nhủ hai con ở đây là cha ông mình một thời đã anh dũng, bất khuất, không chịu sống quỳ, luôn giữ trọn khí tiết, thà chết núi “Tướng quân rơi đầu” ... Còn phía xa xa kia là hòn Trống Thủng, ... là núi trong chứ không sống đục nên “hòn núi kia giống
một người cụt đầu ... là Cờ Rách.”. Mỗi địa danh đều là sự tích về sự thất thủ, hi sinh nhưng luôn “giữ trọn khí tiết”.
Câu 5. Cụ Phó bảng giáo dục con tu dưỡng làm người thông qua các bài học lịch sử của ông cha. Cách giáo dục và chỉ bảo con của cụ cho thấy cụ Phó bảng là một người yêu nước, am hiểu lịch sử nước nhà. Cụ luôn điềm tĩnh và nhẹ nhàng, dẫn dắt con vào các câu chuyện lịch sử để từ đó rút ra bài học làm người
Câu 6. Câu chuyện Dọc đường xứ Nghệ của cha con cụ Phó bảng gợi cho em hoài niệm về các câu chuyện, danh nhân lịch sử đã được học trong các tiết lịch sử. Cách kể chuyện và dạy con của cụ Phó bảng khiến em thêm biết ơn thế hệ cha anh đi trước và tự hào về truyền thống dân tộc. tai liệu của nhung tây Từ đó suy nghĩ về cách tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để trở thành một công dân có ích, sau này tiếp bước ông cha xây dựng và kiến thiết đất nước thêm tươi đẹp
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 5
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Ngày xưa, Trần Hưng Đạo khuyên vua chước giữ nước hay hơn cả là “lúc bình thời, khoan sức cho dân để kế sâu rễ, bền gốc”. Nguyễn Trãi chê Hồ Quý Ly để mất nước vì chỉ biết ngăn sông cản giặc, mà không biết lấy sức dân làm trọng. Các đấng anh hùng dân tộc đều lập nên công lớn, đều rất coi trọng sức dân để giữ nước, chống giặc.
Ngày nay, Hồ Chủ Tịch kêu gọi: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Người nói: phải “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân”. Khác với người xưa, Hồ Chủ Tịch chỉ rõ: Làm những việc đó là “để mưu cầu hạnh phúc cho dân”.
(Những ngày đầu của nước Việt Nam mới - Võ Nguyên Giáp)
Câu 1. Theo tác giả của đoạn trích chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ làm những việc làm đó nhằm mục đích gì?
Câu 2. Em hãy đặt nhan đề cho phần trích trên? tai liệu của nhung tây
Câu 3. Phần trích trình bày ý theo trình tự nào?
Câu 4. Tác giả đưa những nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Quý Ly vào đoạn văn thứ nhất để tạo hiệu quả lập luận như thế nào? Trả lời trong khoảng 4-6 dòng.
Hướng dẫn trả lời
Câu 1. Theo tác giả của đoạn trích chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ làm những việc đó nhằm mục đích: Làm những việc đó là “để mưu cầu hạnh phúc cho dân”.
Câu 2. Học sinh có thể đặt nhan đề sau:
* Lấy nhân dân làm trọng
* Vì dân
* Tư tưởng “thân dân” của Hồ Chí Minh.
Câu 3. Phân tích trình bày theo trật tự thời gian. Ngày xưa - Ngày nay.
Câu 4. Tác giả đưa những nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Quý Ly vào đoạn văn thứ nhất nhằm làm nổi bật những điểm kế thừa và khác biệt với truyền thống trong tư tưởng “thân dân” của Hồ Chí Minh - được nói đến ở đoạn văn thứ hai. tai liệu của nhung tây Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
onthicaptoc.com
onthicaptoc.com
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 6
4. Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7-9 câu) phân tích chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả cam.
Đoạn văn tham khảo
Trần Quốc Toản là người trẻ tuổi lại có tình yêu đất nước mãnh liệt và là người có khí phách oai phong. Vì phải chờ đợi quá lâu trên bến mà không được gặp vua để xin đánh giặc, Quốc Toản bèn xông vào thuyền rồng đòi gặp vua để yết kiến và nói lên nguyện vọng của mình. Hiểu rõ đầu đuôi sự tình, vua cho chàng đứng dậy và thứ tội. Chàng tuy đã làm trái phép nước, nhưng thấy Quốc Toản còn trẻ mà đã biết lo việc nước nên vua đã ban cho chàng một quả cam. Việc ban thưởng quả cam cho thấy nhà vua rất tán thưởng hành động này của chàng. Ấm ức vì bị vua xem thường là trẻ con và lo lắng nghĩ tới quân giặc vẫn đang hoành hành, lăm le xâm lược nước ta, tai liệu của nhung tây Quốc Toản bóp nát quả cam vua ban lúc nào không hay. Hành động đó của Trần Quốc Toản thể hiện sự phẫn nộ, chí diệt thù, chi tiết này cũng cho thấy sự gan dạ, dũng cảm, phẩm chất anh hùng của Trần Quốc Toản.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT: TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BIỆT NGỮ XÃ HỘI
I. LÍ THUYẾT
1. Từ địa phương
a. Từ địa phương là những từ ngữ chỉ sử dụng ở một (hoặc một số) địa phương nhất định.
Ví dụ: Từ “mẹ” là từ toàn dân, nhưng người ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thì gọi là “mệ”, người ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị thì gọi là “mạ”, người ở các tỉnh Nam Bộ thì gọi là “má”, người ở các tỉnh Trung du Bắc Bộ thì gọi là “bầm”, người ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ thì gọi là “u”.
=> Như vậy các từ: mệ, mạ, má, u, bầm là những từ địa phương.
b. Từ ngữ địa phương và từ ngữ toàn dân có thể có những quan hệ như sau:
* Từ ngữ địa phương không có từ ngữ toàn dân tương đương
Ví dụ: chôm chôm, măng cụt…
Đó là những từ ngữ biểu thị các sự vật, hiện tượng chỉ có ở địa phương đó. Các từ ngữ này dễ dàng trở thành các từ ngữ toàn dân có sự giao lưu rộng rãi giữa các vùng miền.
* Từ ngữ địa phương có từ ngữ toàn dân tương đương. Ở đây xảy ra hai trường hợp:
* Từ ngữ địa phương và từ ngữ toàn dân tương đương nhau hoàn toàn: mè - vừng, trốc - đầu…
* Từ ngữ địa phương và từ ngữ toàn dân tương đương nhau không hoàn toàn:
+ hòm (từ ngữ địa phương Nghệ-Tĩnh) có các nghĩa khác nhau, ở nghĩa trong “hòm đạn, “hòm phiếu”, nó tương đương với từ “hòm” toàn dân, còn ở nghĩa hòm là “quan tài”, nó không tương đương với từ “hòm” toàn dân.
=> Cần lưu ý cả trường hợp có những từ ngữ địa phương đồng âm với từ ngữ toàn dân nhưng nghĩa khác nhau: “mận” (từ địa phương Nam Bộ) chỉ cây doi, quả doi…
2. Biệt ngữ xã hội
a. Biệt ngữ xã hội là những từ ngữ chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định.
Ví dụ 1: Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở tầng lớp khá giả trong xã hội, mẹ được gọi bằng “mợ”, cha được gọi bằng “cậu”.
Ví dụ 2: Trong tầng lớp vua quan thời phong kiến có các biệt ngữ sau: bệ hạ, long thể, trẫm, khanh, băng hà ...
Ví dụ 3: Trong tầng lớp học sinh, sinh viên: ngỗng (2 điểm), gậy (1 điểm), phao (tài liệu mang vào phòng thi) …
b. Có những biệt ngữ xã hội được dùng để biểu thị các sự vật, hiện tượng chỉ có trong một nhóm xã hội nào đó
Ví dụ: ngai vàng, lọng, kiệu…là các biệt ngữ xã hội của tầng lớp vua chúa, quan lại thời phong kiến. (các từ ngữ này dễ trở thành từ ngữ toàn dân khi có sự giao lưu rộng rãi giữa các nhóm xã hội). tai liệu của nhung tây
3. Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội được dùng trong tác phẩm văn học khi cần nhấn mạnh, khắc họa đặc điểm địa phương, đặc điểm xã hội của các nhân vật.
* Do tính hạn chế về phạm vi sử dụng của từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội nên tránh lạm dụng những loại từ này trong khi giao tiếp toàn dân.
II. CÁC DẠNG BÀI TẬP
Bài 1: Tìm các từ địa phương trong các câu sau và diễn đạt lại bằng từ ngữ toàn dân:
1. Nó giả vờ nghểnh cổ như phân bua: Ủa! Chớ con giun đâu mất rồi hè?
(Võ Quảng)
2. Một em bé gái bận bộ quần áo bằng xa-tanh màu đỏ, tóc tết quả đào, chân mang đôi hài vải đen bước ra, cúi chào khán giả.
(Đoàn Giỏi)
3. Sáng giăng chia nửa vườn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau Vì tằm tôi phải chạy dâu
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay.
(Nguyễn Bính, Thời trước)
4. Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?
(Hàn Mặc Tử)
5. Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!
Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
(Tố Hữu)
6. Chuối đầu vườn đã lổ Cam đầu ngõ đã vàng Em nhớ ruộng nhớ vườn
Không nhớ anh răng được
(Trần Hữu Chung)
7. Trên mấy nhà sàn buồn tênh, ba bốn bà ké nhìn ra, nhớ những ngày vui của các đồng chí đóng tại nhà mình.
(Nguyễn Huy Tưởng)
8. Ngọt thơm sau lớp vỏ gai Quả ngon lớn mãi cho ai đẹp lòng
Mời cô, mời bác ăn cùng
Sầu riêng mà hoá vui chung trăm nhà
(Phạm Hổ)
9. Gan chi gan rứa, mẹ nờ?
Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?
Chẳng bằng con gái, con trai Sáu mươi còn một chút tài đò đưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò...
(Tố Hữu)
10. Con bé thấy lạ quá, nó chợp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên; “Má! Má”. Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy.
(Nguyễn Quang Sáng)
11. Mẹ nó đâm nổi giận quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:
* Vô ăn cơm!
(Nguyễn Quang Sáng)
12. Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra […] tai liệu của nhung tây
(Nguyễn Quang Sáng)
13. Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông.
(Nguyễn Quang Sáng)
14. Còn anh, anh không kìm được xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ.
(Nguyễn Quang Sáng)
15. Nhà chúng tôi ở cạnh nhau, gần vàm kinh nhỏ đổ ra sông Cửu Long.
(Nguyễn Quang Sáng)
16. Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay. Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi
(Trịnh Công Sơn)
17. Yêu hoa sầu đâu không để vào đâu cho hết, nhớ hoa sầu đâu ở quê hương ta không biết mấy mươi.
(Đoàn Giỏi)
18. Gà bà Kiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, có bộ giò cao, cổ ngắn
(Võ Quảng)
19. Con lớn tính điềm đạm, mới mười hai tuổi mà nói năng như người lớn, nó ăn uống từ tốn, biết nhường phần ngon cho em. Thằng thứ ba, mười tuổi, thắng liếng khỉ nhất nhà, thích làm giàng thun bắt chim, nó chan húp lia lịa. tai liệu của nhung tây
(Nguyễn Sáng)
20. Đứa con gái thứ tư, tám tuổi, người mảnh khảnh, mắt sáng, môi mỏng, miệng nói tía lia, nó gắp từng miếng cá nhỏ, ăn nhỏ nhẻ như mèo.
Bài 1:
1. ủ, hè Ôi, vậy
2. - bận: mặc
* mang: đi
3. - Giăng: trăng
4. - bắp: ngô 5.- đon: bó
* bầm: mẹ
GỢI Ý TRẢ LỜI
(Nguyễn Sáng)
6. lổ: trổ (Đây là những từ thuộc phương ngữ Trung Bộ. Khi sử dụng, nó đã làm tăng tính địa phương của tác phẩm)
răng: sao
7. - bà ké: bà mẹ (Bà ké gợi cho ta hình ảnh bà mẹ người dân tộc thiểu số Việt Bắc. Trong kháng chiến, những người mẹ đó không quản ngại hy sinh, gian khổ giúp bộ đội trên đường hành quân đi chiến dịch)
8. - Sầu riêng: không có từ toàn dân thay thế
9. - chi: sao
* rứa: thế
* nờ: ơi
* hắn: nó
* tui: tôi 10.
* má: mẹ
11. - Nói trổng: nói trống không
* Vô: vào
12. - Ba: bố
13. - Lòi tói: dây thừng
14. - Vết thẹo: vết sẹo
15. - Vàm kinh: cửa kênh
16. - Vô: vào
17. - sầu đâu: hoa xoan 18- giò: chân
19. - liếng khỉ: nghịch ngợm
* giàng thun: sung cao su
20. - tía lia: liến láu
Bài 2. Tìm các từ địa phương mà em biết tương ứng với từ toàn dân: tao, mày, nó
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 2.
* tao: tui, tau, ta…
* mày: mi, o…
* nó: hắn…
Bài 3. Những từ ngữ sau đây là từ ngữ địa phương, em hãy tìm những từ ngữ tương đương trong vốn từ toàn dân:
a. Từ địa phương Bắc Bộ: giăng, thấm chớp, thâu róm.
b. Từ địa phương Trung Bộ: nác, tru, nỏ, thẹn.
c. Từ địa phương Nam Bộ: anh hai, bàn ủi, cây viết, chả lụa, đậu phộng, hột gà.
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 3. Từ toàn dân tương ứng với:
a. Từ địa phương Bắc Bộ: giăng - trăng; thấm chớp - sấm chớp, thâu róm - sâu róm.
b. Từ địa phương Trung Bộ: nác - nước, tru - trâu, nỏ - không, thẹn - xấu hổ…
c. Từ địa phương Nam Bộ: anh hai - anh cả; bàn ủi - bàn là; cây viết - cây bút; đậu phộng – lạc; hột gà - trứng gà….
Bài 4. Trong các từ đồng nghĩa: cọp, khái, hổ từ nào là từ địa phương từ nào là từ toàn dân? Vì sao?
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 4. Gợi ý: “Khái là từ địa phương miền Trung Trung Bộ, cọp là từ toàn dân, hổ là từ toàn dân. tai liệu của nhung tây
Bài 5. Đọc bài thơ sau đây của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi tặng vợ và cho biết bài thơ này gợi cho em những cảm nghĩ gì xung quanh vấn đề từ ngữ địa phương và việc sử dụng từ ngữ địa phương.
Cái gầu thì bảo cái đài
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi Chộ tức là thấy em ơi
Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em.
Thích chi thì bảo là sèm Nghe ai bảo đọi thì đem bát vào
Cá quả lại gọi cá tràu
Vo trốc là bảo gội đầu đấy em… Nghe em giọng Bắc êm êm
Bài 5.
Bà con hàng xóm đến xem chật nhà Răng chưa sang nhởi nhà choa Bà o đã nhốt con ga trong truồng
Em cười bối rối mà thương
Thương em một lại trăm đường thương quê Gió lào thổi rạc bờ tre
Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đá sỏi đất cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em.
(Báo Văn nghệ, số 28/ 2006)
GỢI Ý TRẢ LỜI
* Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi quê ở Nghệ An. Vợ nhà thơ là người miền Bắc. Trong bài thơ này, có nhiều từ ngữ địa phương Nghệ - Tĩnh đã được tác giả giải thích bằng từ ngữ toàn dân. Nhưng có mấy từ ngữ tác giả không giải thích. Đó là từ răng có nghĩa là sao (từ nghi vấn), nhởi (chơi), choa (đại từ ngôi thứ nhất, tự xưng đối với người ngang bậc hoặc ở bậc dưới), o (chị hoặc em gái của cha), ga (gà), truồng (chuồng). tai liệu của nhung tây
* Qua bài thơ, em cảm nghĩ như thế nào về tình cảm của con người đối với tiếng nói của quê hương; về những khó khăn trong việc giao tiếp do tiếng địa phương gây ra và tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ văn hoá ngôn ngữ, nâng cao sự hiểu biết về từ ngữ toàn dân để mọi người ở các địa phương có thể hiểu nhau dễ dàng hơn.
Bài 6. Đọc đoạn trích sau (trong bài thơ Mẹ Suốt của Tố Hữu) và chỉ ra những từ ngữ địa phương có trong đoạn trích. Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ nào? Việc sử dụng những từ ngữ địa phương trong đoạn thơ có tác dụng gì?
Gan chi gan rứa, mẹ nờ?
Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?
Chẳng bằng con gái, con trai Sáu mươi còn một chút tài đò đưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò… Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:
Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?
Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu
Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!
Nghe ra ông cũng vui lòng Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò:
“Coi chừng sóng lớn, gió to
Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình!”
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 6.
* Trong đoạn trích bài thơ Mẹ Suốt của Tố Hữu có các từ địa phương là: chi, rứa, nờ, tui, cớ, răng, ưng, mụ.
* Đó là các từ thuộc phương ngữ Trung, phổ biến ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế (vùng Bắc Trung Bộ)
* Tác dụng của việc sử dụng các từ địa phương này trong đoạn thơ: góp phần thể hiện chân thực hơn hình ảnh một vùng quê và tình cảm, suy nghĩ, tính cách của người mẹ trên vùng quê ấy; làm tăng sự sống động, gợi cảm cho tác phẩm.
Bài 7. Tìm một số biệt ngữ xã hội mà em biết, giải thích nghĩa của những từ đó và đặt câu.
GỢI Ý TRẢ LỜI
Bài 7.
+ Giới chọi gà: chầu (hiệp), chêm (đâm cựa), chiến (đá khoẻ), dốt (nhát) …
+ Của học sinh: ngỗng (điểm hai), quay (nhìn, sao chép tài liệu), học gạo (học nhiều, không còn chú ý đến việc khác)…
Đặt câu:
Ví dụ: Con lông trì và con lông cảo bắt đầu vào chầu hai.
ÔN TẬP VĂN BẢN: QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH
(Trích Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô Gia Vă Phái)
HỒI THỨ 14
(Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống chốn ra ngoài)
I. Tác giả Tác phẩm
1. Tiểu sử
* Là nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, quê ở làng Tả - Thanh Oai, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây (Nay thuộc Hà Nội), một dòng họ danh giá, một dòng tộc sản sinh ra nhiều danh sinh cho đất Bắc Hà, trong đó có hai tướng viết “ HLNTC” là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.
* Ngô Thì Chí ( 1753 - 1788) em ruột của Ngô Thì Nhậm, làm quan dưới triều Lê Chiêu Thống, tuyệt đối trung thành với nhà Lê. Từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Vũ Văn Nhậm ra bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Ông được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong lập nghĩa binh chống lại quân Tây Sơn.Trên đường đi ông bị bệnh mất tại Bắc Ninh, nhiều tài liệu nói ông viết 7 hồi đầu.
* Ngô Thì Du ( 1772 – 1840) anh em chú bác ruột với Ngô Thì Nhậm, học giỏi nhưng không đỗ đạt. Dưới triều Tây Sơn ông sống ẩn dật tại Hà Nam. Thời nhà Nguyễn ông ra làm quan, nhiều tài liệu nói ông viết 7 hồi tiếp theo trong đó có hồi thứ 14, 3 hồi cuối không rõ tác giả được viết vào những năm dưới triều nhà Nguyễn. tai liệu của nhung tây
2. Tác phẩm
a. Nhan đề: “Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. Nó không
chỉ dừng lại ở sự thống nhất của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX. Cuốn tiểu thuyết có tất cả 17 hồi.
b. Thể loại: (chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).
Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi.
c. Hoàn cảnh: hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.
d. Khái quát nội dung và nghệ thuật
* Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.
* Nghệ thuật: Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ thể, gây được ấn tượng mạnh.
e. Tóm tắt hồi 14 “Hoàng Lê nhất thống chí”
onthicaptoc.com GA day them Ngu van 8 KNTT HK1
NGỮ VĂN 8
CHUYÊN SÂU
NGỮ VĂN 8
PHẦN I: CÁCH LÀM BÀI ĐỌC HIỂU
THỰC HIỆN TỪ NĂM HỌC 2023-2024
MÔN NGỮ VĂN 8
TRƯỜNG THCS ………….
Phụ lục I
Ngày dạy: Lớp:
CHỦ ĐỀ 1: ÔN TẬP TỔNG HỢP KIẾN THỨC LỚP 7
TIN YÊU VÀ ƯỚC VỌNG
VĂN BẢN 1
TIẾT 73, 74, 75 ÔN TẬP ĐỌC HIỂU TRUYỆN
ÔN TẬP ĐỌC HIỂU TRUYỆN “ LÃO HẠC”