Ví dụ 34. Giải phương trình
- Phân tích hướng giải. Quan sát phương trình ta thấy muốn thoát căn thức của phương trình ta chỉ có thể nghĩ các hướng nâng lũy thừa và đặt ẩn phụ. Tuy vậy, nếu nâng lũy thừa ta sẽ gặp phương trình bậc bốn có thể sẽ gây khó khăn cho chúng ta do hình thức phương trình (cố gắng thì có thể chúng ta vẫn tới đích được), còn nếu đặt ẩn phụ thì ta sẽ chọn ẩn phụ thế nào đây khi mà cả hai đại lượng trong căn bậc hai chẳng có liên quan gì đến nhau. Vậy ta thoát căn thức bài toán này bằng cách nào?
Nhận xét rằng ta có:
Do đó theo suy nghĩ tự nhiên ta sẽ tách hai đại lượng này về hình thức:
Cụ thể ta có:
Khi đó phương trình đã cho sẽ được biến đổi thành phương trình sau:
Mỗi căn thức ở vế trái của phương trình gợi cho hình ảnh công thức của độ dài một véc tơ.
Thật vậy nếu ta có:
Vậy ta sẽ xét hai véc tơ: .
Khi đó ta có:
Tới đây, ta áp dụng bất đẳng thức véc tơ sau đây:
Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi cùng phương.
Nhưng chúng ta thấy bên vế phải của phương trình không còn chứa biến x do đó ta cần phải không còn chứa x và có độ dài bằng vế phải của phương trình . Muốn vậy, ta cần điều chỉnh lại hai vec tơ như sau:
- Trường hợp 1:
- Trường hợp 2:
Vậy ta có hai trường hợp thỏa mãn. Do đó ta đi vào lời giải chi tiết sau:
+ Phương trình đã cho được biến đổi thành phương trình:
Xét các vec tơ:
Khi đó phương trình trở thành:
Ta lại có: Dấu đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi cùng phương.
Từ đó ta có:
Vậy phương trình có nghiệm duy nhất
- Bình luận. Hướng đi trong bài toán chính là hướng giải phương trình vô tỷ bằng bất đẳng thức hình học, hướng giải của phương pháp này cần độ khéo léo trong biến đổi véc tơ và chọn véc tơ thích hợp để dấu bằng bất đẳng thức xảy ra và nghiệm đúng phương trình đã cho.
Ví dụ 35. Giải phương trình
- Phân tích hướng giải. Quan sát phương trình ta nhận thấy muốn thoát căn phương trình này thì ta không thể dùng phép nâng lũy thừa được vì các căn thức đều là căn bậc cao. Vì vậy, đường hướng thoát căn hiệu quả trong lúc này chính là đặt ẩn phụ. Có hai hướng đặt ẩn phụ.
- Hướng 1: Đặt 4 ẩn phụ cho tất cả các đại lượng có trong bài toán.
Phương trình đã cho ta sẽ biến đổi phương trình về phương trình.
Đặt:
Khi đó trở thành:
Sử dụng hằng đẳng thức:
Ta có:
Có được tất cả các phép biến đổi đó là nhờ sử dụng
Tới đây ta chú ý rằng:
Do đó ta có tương đương với: vì vô nghiệm
Tới đây ta có thể giải quyết trọn vẹn bài toán như sau:
+ Cách 1: Điều kiện:
Đặt:
Từ điều kiện đặt ẩn phụ ta có:
Kết hợp điều này với phương trình đã cho ta có hệ phương trình:
Từ:
Ta luôn có:
Do đó từ ta có: vì vô nghiệm.
Với
Kiểm tra lại ta thấy phương trình có nghiệm duy nhất
- Hướng 2: Đặt hai ẩn phụ do có nhận thấy hoặc
Đặt:
Ta để ý rằng:
Kết hợp với phương trình ta có hệ phương trình:
Hệ này giải trực tiếp rất không khả thi với các biến đổi đại số thông thường nên thử tìm tòi một hướng đi khác xem sao?
Bắt đầu từ nhận xét:
Ta liên tưởng đến một bất đẳng thức cơ bản rất quen thuộc:
Từ đó:
Hay:
Đánh giá tương tự ta có:
Từ đó ta có: .
Dấu đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi Và tới đây bài toán được giải quyết, do đó ta có lời giải thứ hai như sau:
+ Cách 2: Điều kiện:
Đặt: ,
Ta có:
Kết hợp từ điều kiện và phương trình đã cho ta có hệ phương trình:
Ta có với mọi số thực m, n, p ta luôn có:
Thật vậy ta có bất đẳng thức cần chứng minh tương đương với bất đẳng thức:
Dấu đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi:
Áp dụng bất đẳng thức này ta có:
Hay ta có:
Thiết lập tương tự ta có:
Từ đó ta có: . Dấu đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi:
Khi đó ta có hệ phương trình:
Vậy phương trình có một nghiệm duy nhất
Bây giờ ta sẽ nhìn bài toán với một cách nhìn khác ngoài ẩn phụ xem bài toán có thể đi theo hướng giải quyết nào nữa không?
Ta quan sát phương trình và để ý thấy rằng:
Khi đó ta biến đổi phương trình đã cho trở thành phương trình:
Qua hình thức của phương trình ta thấy ngay bài toán có thể sử dụng phương pháp hàm số đặc trưng để giải quyết bài toán. Từ đó ta đưa ra một lời giải khác cho bài toán như sau:
+ Cách 3: Điều kiện:
Phương trình đã cho được biến đổi về phương trình sau:
Xét hàm số
Ta có:
Khi đó ta có: ,
Mặt khác: khi khi
Từ đó từ ta có:
Vậy phương trình có nghiệm duy nhất
- Chú ý: Ta có thể biến đổi phương trình về phương trình:
Và từ đó dẫn đến xét hàm số đặc trưng:
- Bình luận. Đây là một phương trình vô tỷ có hình thức đẹp, lời giải cho bài toán cũng có những điểm thú vị và thường có thể gặp trong phương trình vô tỷ. Ở hai cách đặt ẩn phụ thì thông qua cách 1 chúng ta thấy có đôi lúc sử dụng hằng đẳng thức khéo cũng có thể giải quyết được bài toán phương trình vô tỷ và ý tưởng này cũng thường được dùng để giải phương trình vô tỷ. Ở cách hai thì chúng ta có sử dụng một bổ đề thông qua bất đẳng thức cơ bản quen thuộc, điều này cũng có khi xuất hiện tự nhiên trong lúc ta không thể biến đổi trực tiếp đại số vì sẽ gặp những khó khăn nhất định và trong bài toán có sự xuất hiện dấu hiệu để sử dụng các bất đẳng thức quen thuộc. Ở cách 3 thì phương hướng đi đã quen thuộc và không khó để có thể nhận thấy hàm số đặc trưng, tuy nhiên trong cách 3 nó có sự khó khăn riêng nếu ta không quen với việc chia khoảng (đoạn) để thấy rõ tính đơn diệu. Đặc biệt hình thức bài toán và dấu hiệu chỉ có nghiệm duy nhất hay đưa chúng ta về việc suy nghĩ dùng phương pháp liên hợp nhưng rõ ràng phương pháp này hoàn toàn thất bại trong phương trình này vì quá khó khăn.
Ví dụ 36. Giải phương trình
- Phân tích hướng giải. Bài toán này về hình thức thật sự ấn tượng bởi bậc của các căn thức. Cũng chính sự đặc biệt này nên để giải quyết bài toán này chúng ta không cần tính đến vệc phải thoát căn thế nào là hiệu quả. Với hình thức phương trình này, ta sẽ có bước đầu tìm nghiệm của phương trình bằng máy tính và có nghiệm duy nhất là . Và có lẻ con đường có thể giải quyết tốt bài toán này là dùng tính đơn điệu của hàm số để giải. Do đó ta sẽ không phân tích sâu các bước giải mà trực tiếp vào lời giải cho bài toán như sau:
+ Điều kiện:
Phương trình đã cho được biến đổi về phương trình sau:
Xét hàm số
Ta có:
Tới đây ta sẽ tìm cách đánh giá cho .
Quan sát thấy giữa hai đại lượng và liên quan đến nhau và về bậc căn thức ta cũng thấy dễ kết hợp hơn nên ta sẽ xét hiệu sau:
Để xét dấu biểu thức A thì ta cần chuẩn quy về một căn thức để có thể tiện lợi so sánh và vì trong biểu thức A chứa căn bậc hai và căn bậc năm nên ta sẽ chuẩn quy về căn bậc mười. Do đó ta biến đổi như sau:
Vậy để xét dấu của A ta chỉ cần xét dấu của hiệu:
Ta có:
Lại có:
Từ đó ta có:
Do đó : Vậy hàm số liên tục và luôn đồng biến với Mặt khác ta có nên phương trình đã cho có nghiệm duy nhất
- Bình luận. Đây là một bài toán hay, tuy đường lối giải quyết có sự hạn chế do đặc điểm đặc biệt của hình thức phương trình nhưng rõ ràng để giải trọn vẹn bài toán thì chúng ta sẽ không có những đánh giá nhàm chán quen thuộc mà lồng vào đó có những đánh giá khéo léo và thú vị.
Ví dụ 37. Giải phương trình
- Phân tích hướng giải. Quan sát bài toán này dùng máy tính ta bấm được nghiệm duy nhất ta thấy bài toán chỉ chứa một căn thức nên rõ ràng theo hướng suy nghĩ thoát căn thức của phương trình ta sẽ ẩn phụ hóa cho căn thức.
Cụ thể ta đặt Khi đó phương trình đã cho trở thành phương trình:
Phương trình là phương trình bậc 8 đối với t thì cho dù biết trước nghiệm của đi chăng nữa thì thật sự để giải nó là cả một sự liều lĩnh không cần thiết đến lúc này. Vậy ta không thể ẩn phụ hóa bài toán để thoát căn nên ta cần phải định liệu lại hướng đi khác cho bài toán.
Một điều dễ gây nhiễu cho cách nhìn của bài toán này chính là cách sắp xếp phương trình khá độc đáo.
Thật vậy, bằng phép biến đổi đưa nhân tử ta có thể đưa phương trình về phương trình đẹp mắt sau:
Tới phép biến đổi này ở vế trái của phương trình và suy nghĩ nghiệm duy nhất dễ gây ra cho chúng ta ấn tượng là bài toán có thể giải theo hướng phương pháp hàm số bằng cách chọn một hàm số đặc trưng. Điều này là không thể vì vế phải của không cho phép tạo được một dáng điệu giống vế trái.
Vậy hai hướng đi xem chừng như có thể giải quyết bài toán lại cho chúng ta vào đường cụt. Tuy nhiên cái thú vị ở bài toán này vẫn còn, cụ thể ta sẽ khai triển bình phương có trong bài toán ta vẫn thu được một phương trình đẹp mắt tiếp theo như sau:
Phương trình cũng gây được một ấn tượng về hướng giải giống phương trình và kết quả không khả thi của hai phương trình là như nhau.
Tới đây, xem như ta chưa tìm được lối thoát của phương trình, vậy bây giờ ta bắt buộc phải tính đến việc bắt nhân tử bằng phương pháp liên hợp.
Muốn vậy ta xử lí căn thức như các ví dụ trên đã đề cập thì ta có hai hướng tách như sau:
+ Hướng 1:
+ Hướng 2:
Rõ ràng kết quả hướng hai cho phép ta sử dụng tốt nhất vì đơn giản là
Do đó ta biến đổi phương trình đã cho về phương trình:
Tới đây bài toán xem như được giải quyết. Bây giờ sẽ đi vào lời giải cụ thể hơn.
Điều kiện:
Phương trình đã cho được biến đổi thành phương trình:
Ta có:
Thật vậy ta có thì
Vậy phương trình đã cho có nghiệm duy nhất
- Bình luận. Qua lời giải chính thức của bài toán các bạn độc giả sẽ có cảm nhận là phương trình vô tỷ này cách tiếp cận là đưa ra hướng giải cũng rất quen thuộc nhưng vì sao chúng tôi không đi vào trực tiếp phân tích ngay lời giải theo hướng liên hợp? Câu trả lời của chúng tôi chính là do cách sắp xếp hình thức phương trình khá độc đáo và đại lượng căn thức chỉ có một nên sẽ dễ gây tác động “ảo” cho người giải về định hướng tư duy giải bài toán này. Đó chính là mục đích chính của chương này để giúp cho cách nhìn tư duy giải một bài toán theo hướng hoàn thiện hơn và mở ra nhiều sự suy nghĩ hơn logic cũng như chưa logic khi đứng trước một lời giải cho bài toán phương trình vô tỷ. Chú ý rằng bài toán sẽ vẫn giải quyết tốt nếu ta biến đổi phương trình đã cho về phương trình và nếu áp dụng liên hợp dưới hình thức sẽ dễ sai lầm nếu không có điều kiện
Ví dụ 38. Giải phương trình
- Phân tích hướng giải. Quan sát bài toán ta thấy có sự xuất hiện cả ba căn thức nên ta cần giảm đi số lượng căn thức càng ít càng tốt. Đặc biệt vế phải của phương trình cí chứa đơn biến x ngoài căn và không có hệ số nào nên suy nghĩ tự nhiên đó là kiểm tra phương trình với .
Cụ thể thấy ngay thỏa phương trình đã cho. Lúc đó ta sẽ xét và kết hợp với những điều kiện có trong bài toán thì ta sẽ chia hai vế phương trình và phân phối hợp lí ta thu được phương trình sau:
Phương trình so với phương trình đã cho đã có số lượng căn thức ít hơn và hình thức cũng gọn gàng hơn, đường lối tư duy đi cũng theo đó sẽ thoáng hơn rất nhiều. Thật vậy, không quá khó nghĩ với phương trình này thì có vẻ ý tưởng đưa đến đầu tiên chính là đặt ẩn phụ và biểu diến các đại lượng còn lại theo ẩn phụ mới để thu được phương trình (thường là phương trình đẳng cấp có hệ số tự do bằng 0 hoặc phương trình đẳng cấp có thể đưa về dạng ) hoặc hệ phương trình (thường là giải hệ bằng phương pháp thế hoặc đối xứng, đẳng cấp). Chính vì lí do đó ta thử với hai lối tư duy ẩn phụ đó là đặt 2 ẩn phụ hoặc 1 ẩn phụ.
- Hướng 1: Đặt hai ẩn phụ.
Đặt:
Ta sẽ biểu diễn hai đại lượng thông qua hai ẩn phụ bằng cách tìm cặp số sao cho:
Khi đó trở thành:
Từ kết hợp với các hệ số tìm được ta thấy ngay được phương trình ta không thể nào đưa về phương trình đẳng cấp có hệ số tự do bằng 0 hoặc phương trình đẳng cấp có thể đưa về dạng . Do đó ta buộc phải đưa về hệ phương trình bằng cách kết hợp và điều kiện.
Cụ thể ta có hệ phương trình:
Hệ là một hệ phương trình chứa 2 phương trình đẳng cấp nhưng có bậc ở 2 phương trình trong hệ lệch nhau nên ta không thể sử dụng cách giải hệ đẳng cấp thông thường để giải quyết, do đó để giải hệ phương trình ta cần tìm hiểu thật kỷ càng trước khi đưa ra một hướng giải quyết nhất định. Quan sát các hệ số ta có nên phương trình phải có một nghiệm . Kết hợp với nhận định cũng có một nghiệm
Mặt khác khi ta không tìm được x do đó ta có nên rõ ràng từ các điều này ta có quyền nghĩ đến biến đổi hai phương trình trong hệ về một phương trình sau:
Với phương trình vừa biến đổi được ta sẽ có một hệ phương trình mới gọn đẹp hơn như sau:
Hệ về hình thức nhìn dễ thở hơn và quen thuộc hơn so với hệ .
Ta có:
Tới đây xem như hướng 1 được giải quyết triệt để, do đó ta đi vào cách giải chi tiết như sau:
onthicaptoc.com Bài 21. Phương trình vô tỷ của thầy Phạm Kim Chung
1.1.1Phương trình bậc nhất hai ẩn
Định nghĩa .
Câu 1.Để loại bỏ chất gây ô nhiễm không khí từ khí thải của một nhà máy, người ta ước tính chi phí cần bỏ ra là (triệu đồng).
Số tiệm cận đứng của đồ thị hàm số là?
Câu 1: Điểm là điểm trên đường tròn lượng giác, biểu diễn cho góc lượng giác có số đo . Tìm khẳng định đúng.
A. .B. .C. .D. .
A. LÝ THUYẾT
Sự điện li là quá trình phân li các chất khi tan trong nước thành các ion. Chất điện li là những chất tan trong nước phân li thành các ion . Chất không điện li là chất khi tan trong nước không phân li thành các ion
DỰA VÀ BẢNG BIẾN THIÊN VÀ ĐỒ THỊ
Ví dụ 1: Cho hàm số liên tục trên đoạn và có bảng biến thiên trong đoạn như hình. Gọi là giá trị lớn nhất của hàm số trên đoạn . Tìm giá trị của ?
Câu 1.Trong không gian , cho điểm và mặt phẳng .
Khẳng định nào sau là đúng hay sai?
Câu 1: (SBT - KNTT) Hiện tượng giao thoa sóng là hiện tượng
A. giao thoa của hai sóng tại một điểm trong môi trường.