onthicaptoc.com
ĐỀ THI VÀO LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018
ĐỀ 1
NĂM 2025-2026
Thời gian: 120 phút
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa
Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại
Quê hương ta tất cả vẫn còn đây
Dù người thân đã ngã xuống đất này
Ta lại gặp những mặt người ta yêu biết mấy
Ta nhìn ta, ta ngắm, ta say
Ta run run nắm những bàn tay
Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng.
Đây rồi đoạn đường xưa
Nơi ta vẫn thường đi trong mộng
Kẽo kẹt nhà ai tiếng võng trưa
Ầu ơ … thương nhớ lắm
Ơi những bông trang trắng, những bông trang hồng
Như tấm lòng em trong trắng thủy chung
Như trái tim em đẹp màu đỏ thắm
Con sông nhỏ tuổi thơ ta đã tắm
Vẫn còn đầy nước chẳng đổi dòng
Hoa lục bình tím cả bờ sông.”
(Trích “Trở về quê nội” - Lê Anh Xuân)
Câu 1 (0,25 điểm). Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào?
A. Thơ lục bát
B. Thơ bảy chữ
C. Thơ song thất lục bát
D. Thơ tự do
Câu 2 (0,25 điểm). Những hình ảnh nào trong đoạn thơ đã thể hiện được vẻ đẹp và sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của quê hương?
A. những mặt người ta yêu biết mấy, đoạn đường xưa, tiếng võng đưa, những bông trang trắng, những bông trang hồng, con sông nước chẳng đổi dòng, hoa lục bình tím cả bờ sông.
B. xanh biếc bóng dừa, những mặt người ta yêu biết mấy, đoạn đường xưa, tiếng võng đưa, những bông trang trắng, những bông trang hồng, con sông nước chẳng đổi dòng.
C. xanh biếc bóng dừa, những mặt người ta yêu biết mấy, đoạn đường xưa, tiếng võng đưa, những bông trang trắng, những bông trang hồng, con sông nước chẳng đổi dòng, hoa lục bình tím cả bờ sông.
D. đoạn đường xưa, tiếng võng đưa, những bông trang trắng, những bông trang hồng, con sông nước chẳng đổi dòng, hoa lục bình tím cả bờ sông, tuổi thơ ta tắm.
Câu 3 (0,25 điểm). Điệp từ “ta” được điệp lại nhiều lần kết hợp với một loạt những động từ “gặp lại”, “yêu”. “nhìn”, “say”, “ngắm” … có tác dụng gì?
A. Khẳng định tình yêu quê hương là tình cảm thiêng liêng, cao đẹp trong trái tim người xa quê; đồng thời nhắn nhủ chúng ta cần trân trọng cội nguồn gốc rễ của mình.
B. Nhấn mạnh tình yêu quê hương tha thiết và nỗi xúc động, bồi hồi của tác giả khi trở lại quê nhà sau bao năm xa cách.
C. Nhấn mạnh những vẻ đẹp thơ mộng, hữu tình của quê hương luôn sống mãi trong kí ức nhân vật trữ tình.
D. Khẳng định vẻ đẹp thơ mộng, hữu tình của quê hương; bộc lộ tình yêu quê hương thiết tha, sâu nặng của “ta”.
Câu 4 (0,25 điểm). Âm thanh “kẽo kẹt … tiếng võng đưa”, “ầu ơ …” đánh thức điều gì trong “cái tôi” trữ tình của tác giả?
A. Đánh thức kí ức tuổi thơ ngọt ngào; trong miền kí ức đẹp ấy có âm thanh tiếng võng, có tiếng ru ầu ơ của mẹ
B. Đánh thức tình yêu quê hương và khát vọng xây dựng quê hương ngày càng trở nên giàu đẹp trong “cái tôi” trữ tình của tác giả.
C. Đánh thức nỗi nhớ mẹ, nhớ quê hương, nhớ những kỉ niệm dấu yêu của tuổi học trò trong “cái tôi” trữ tình của tác giả.
D. Đánh thức những kỉ niệm tuổi thơ thật đẹp, thật bình yên gắn với hình ảnh của bà, của mẹ trong “cái tôi” trữ tình của tác giả.
Câu 5 (0,25 điểm). Dòng thơ “Hoa lục bình tím cả bờ sông” khắc họa điều gì?
A. Hình ảnh hoa lục bình màu tím rất đẹp, đây là loại hoa đã để lại nhiều kỉ niệm sâu sắc trong lòng tác giả.
B. Hình ảnh hoa lục bình là biểu tượng của miền quê sông nước, nó gợi nhắc những kỉ niệm về quê hương thanh bình.
C. Hình ảnh dòng sông đẹp, bình dị và yên lành, mênh mang và xao xuyến, như là biểu tượng cho vẻ đẹp của quê hương yêu dấu.
D. Hình ảnh hoa lục bình tím gợi lên trong lòng người xa quê nỗi nhớ quê hương da diết, gợi nhắc những kỉ niệm tuổi thơ yêu dấu bên người thân.
Câu 6 (0,25 điểm). Hai dòng thơ đầu có sử dụng những thành phần biệt lập nào?
A. Thành phần chêm xen và thành phần cảm thán.
B. Thành phần tình thái và thành phần chêm xen.
C. Thành phần cảm thán và thành phần tình thái.
D. Thành phần cảm thán và thành phần gọi - đáp.
Câu 7 (0,25 điểm). Hai dòng thơ “Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa/ Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại” diễn tả tâm trạng gì của nhân vật trữ tình?
A. Tâm trạng buồn thương, nhớ nhung người thân khi trở về quê cũ.
B. Tâm trạng xúc động, rưng rưng của nhà thơ khi trở về quê cũ.
C. Tâm trạng xót xa khi trở về thăm quê hương nhưng những người thân yêu không còn nữa.
D. Tâm trạng bồi hồi, xao xuyến, bâng khuâng khi được trở về quê cũ.
Câu 8 (0,25 điểm). Có ý kiến cho rằng: Đoạn trích thơ đã thể hiện thành công tình yêu quê hương nồng nàn, tha thiết của nhân vật trữ tình qua những câu thơ bình dị mà giàu xúc cảm.
Em có đồng tình với ý kiến trên không?
A. Đồng tình.
B. Không đồng tình.
Câu 9 (1,0 điểm). Hãy rút ra 02 bài học có ý nghĩa nhất đối với em sau khi đọc xong đoạn trích thơ.
Câu 10 (1,0 điểm). Từ nội dung của đoạn thơ, em hãy viết đoạn văn (5 đến 7 câu) trình bày vai trò của quê hương đối với cuộc đời mỗi con người.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết của việc biết nắm bắt cơ hội trong cuộc sống.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích truyện ngắn sau:
TRỞ VỀ
-Thạch Lam-
(Lược dẫn: Tâm và vợ về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê, gần nhà chàng. Tâm đưa vợ đi ăn tiệm, bảo vợ đợi mình ở đó để chàng về qua nhà thăm mẹ già khoảng chừng một tiếng.)
Có đến năm, sáu năm nay, Tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế giễu mình, khi còn nhỏ, đã cho cái đời ở thôn quê là giản dị và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bình dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.
Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! [...]
(Lược dẫn: Tâm về đến sân nhà. Bà mẹ mừng ứa nước mắt, hỏi han sức khỏe con trai, kể chuyện về Trinh - cô gái con bác cả hồi nhỏ vẫn hay chơi với Tâm. Một lát sau, Trinh sang chơi. Gặp lại Tâm, người thiếu nữ bẽn lẽn, e lệ)
Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỷ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cải đời tối tăm nghèo khổ.
Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. [....] Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.
(Lược dẫn: Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng chào bà mẹ để đi, mặc cho bà cụ khẩn khoản giữ con ở lại ăn bữa cơm trưa. Trước khi đi, Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ).
Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận.
Khi Tâm bước vào hàng cơm, vợ chàng vui mừng lộ ra nét mặt, vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai vợ chồng rủ nhau đi ngắm cảnh, đợi đến chiều mát sẽ đi ô-tô về hứng gió. [...]
Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên một cô con gái, đi ra phía ga. Tâm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn được trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hỏa. Chàng lộ vẻ khó chịu. Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm sợ lúc bà cụ lại khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy áo chàng mà kể lể giữa chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế giễu của mọi người. Vợ chàng sẽ nói thế nào?
- Thôi, chúng ta về ngay đi.
Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay vợ rảo bước mau.
Đợi bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên đất.
Khi đến chỗ quặt quả ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây, Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình.
Tâm không ngoảnh lại, chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng ở không bận tâm trí. Giữa những kỷ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ. Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau lưng như càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.
(Theo Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008, tr. 22-28)
Chú thích:
Thạch Lam (1910-1942), tên khai sinh là Nguyễn Tường Lân, là một người đôn hậu và rất đỗi tinh tế. Ông có quan điểm văn chương lành mạnh tiến bộ, có biệt tài về truyện ngắn. Truyện ngắn của Thạch Lam thường có sự hòa quyện giữa hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình. Do đó truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện đặc biệt, mỗi truyện ngắn giống như một bài thơ trữ tình đượm buồn.
Truyện ngắn Trở về là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam.
HƯỚNG DẪN CHẤM
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu
Yêu cầu cần đạt
Điểm
1
D. Thơ tự do
0,25
2
C. xanh biếc bóng dừa, những mặt người ta yêu biết mấy, đoạn đường xưa, tiếng võng đưa, những bông trang trắng, những bông trang hồng, con sông nước chẳng đổi dòng, hoa lục bình tím cả bờ sông.
0,25
3
B. Nhấn mạnh tình yêu quê hương tha thiết và nỗi xúc động, bồi hồi của tác giả khi trở lại quê nhà sau bao năm xa cách.
0,25
4
D. Đánh thức những kỉ niệm tuổi thơ thật đẹp, thật bình yên gắn với hình ảnh của bà, của mẹ trong “cái tôi” trữ tình của tác giả.
0,25
5
C. Hình ảnh dòng sông đẹp, bình dị và yên lành, mênh mang và xao xuyến, như là biểu tượng cho vẻ đẹp của quê hương yêu dấu.
0,25
6
C. Thành phần cảm thán và thành phần tình thái.
0,25
7
B. Tâm trạng xúc động, rưng rưng của nhà thơ khi trở về quê cũ.
0,25
8
A. Đồng tình
0,25
9
Học sinh có nhiều cách diễn đạt để nêu lên 02 bài học có ý nghĩa nhất đối với bản than mình sau khi đọc xong đoạn trích thơ; bài học phải đúng đắn, phù hợp với nội dung, ý nghĩa của bài thơ; đồng thời phải đảm bảo chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là một vài gợi ý về những bài học có ý nghĩa gợi ra từ bài thơ:
- Yêu quê hương, đất nước và trân trọng, gìn giữ những nét đẹp bình dị, những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước.
- Có ý thức quảng bá vẻ đẹp của quê hương đến với bạn bè quốc tế.
- Có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần cống hiến, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, …
1,0
10
* Về hình thức: Đảm bảo thể thức của một đoạn văn, dung lượng đúng yêu cầu của đề bài; viết đúng ngữ pháp, chính tả.
* Về nội dung: Học sinh có nhiều cách diễn đạt khác nhau để trình bày vai trò của quê hương đối với cuộc đời mỗi con người. Tuy nhiên, nội dung đoạn văn phải đảm bảo chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Sau đây là gợi ý:
- Quê hương là nơi mỗi con người sinh ra, lớn lên, là mảnh đất mà chúng ta gắn bó suốt cuộc đời, với những kỷ niệm đẹp khó quên.
- Quê hương dạy ta biết lớn khôn và trưởng thành dần từ những ngây thơ, vụng dại của ngày bé.
- Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên mà còn là nơi con người ta quay trở về sau những bão tố, những khó khăn.
- Phê phán những người chưa nhận thức được tầm quan trọng của quê hương, chưa có ý thức xây dựng quê hương thêm giàu đẹp hơn.
- Mỗi chúng ta cần nhận thức đúng đắn về vai trò của quê hương đối với sự hình thành nhân cách, giá trị sống cho mình. Từ đó, có những hành động thiết thực đóng góp xây dựng quê hương mình: học tập, rèn luyện để trở thành công dân tốt cho quê hương, biết giữ gìn truyền thống tốt đẹp của quê hương và có ý thức xây dựng quê hương giàu đẹp, …
1,0
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
* Về hình thức:
- Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận xã hội; dung lượng đúng yêu cầu của đề bài
- Văn phong trong sáng;
- Không mắc lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả.
* Về nội dung:
Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
Cơ hội không đến với những người đợi chờ, mà đến với những người hành động. Cơ hội tuy chỉ là những khoảnh khắc nhỏ, nhưng chúng có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cuộc đời bạn. Vì vậy, việc nắm bắt cơ hội trong cuộc sống có ý nghĩa vô cùng to lớn với mỗi người.
Thân đoạn: Làm sáng tỏ sự cần thiết của việc biết nắm bắt cơ hội trong cuộc sống.
- Cơ hội là điều kiện thuận lợi, thời điểm hội tụ những điều thích hợp cho chúng ta tận dụng và tạo ra những thành công cho bản thân. Cơ hội không phải lúc nào cũng xuất hiện, do đó việc nắm bắt được những cơ hội sẽ mang đến cho chúng ta niềm tin, niềm hi vọng để ta đạt được mục đích. Biết nắm bắt cơ hội là chìa khóa để mở ra cánh cửa của thành công. Biết nắm bắt cơ hội giúp chúng ta tận dụng các điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu đã đặt ra, từ đó đạt được thành công mong muốn. Hơn nữa, việc chủ động nắm bắt cơ hội còn tạo ra cho chúng ta một sức mạnh to lớn và động lực để ta vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống. Biết nắm bắt cơ hội giúp bạn phát triển kỹ năng và kinh nghiệm. Khi bạn tận dụng cơ hội, bạn sẽ gặp những thử thách mới và phải đối mặt với những khó khăn mới giúp ta rèn luyện bản thân, tích lũy được kinh nghiệm, nâng cao chuyên môn. Nắm bắt cơ hội giúp bạn mở rộng mạng lưới quan hệ và kết nối. Cơ hội thường xuất hiện khi bạn có mối quan hệ và kết nối với người khác. Nếu bạn tận dụng cơ hội để gặp gỡ và kết nối với những người thành công, bạn sẽ có cơ hội học hỏi và lấy cảm hứng từ họ.
- Dẫn chứng chứng minh: Thuở thiếu thời Picasso là một hoạ sĩ vô danh, nghèo túng ở Paris. Đến lúc chỉ còn 15 đồng bạc, ông quyết định đánh canh bạc cuối cùng. Ông thuê sinh viên dạo các cửa hàng tranh và hỏi: “Ở đây có bán tranh của Picasso không?”. Chưa đầy một tháng tên tuổi của ông đã nổi tiếng khắp Paris, tranh của ông bán được và nổi tiếng từ đó. Những tháng ngày bôn ba nơi xứ lạ, Nguyễn Tất Thành thử sức trong mọi công việc: làm thuê, làm thợ bánh, phụ giúp đầu bếp, cào tuyết ở trường học, đốt lò ở hầm, làm dọn dẹp và rửa bát đĩa làm đồ giả cổ, vẽ quạt, lọ hoa, chao đèn, ... Nhờ đó, Người trau dồi vốn ngoại ngữ, thấu hiểu đời sống dân nghèo, nắm rõ bản chất tư bản và càng thêm vững vàng đến với con đường chính trị đúng đắn...
Kết đoạn: Người đạt được thành công không phải là người không bao giờ thất bại, mà là người không bao giờ từ bỏ tìm kiếm cơ hội mới. Do đó, mỗi chúng ta hãy làm cho mỗi ngày trở nên ý nghĩa bằng cách tận dụng những cơ hội nhỏ xung quanh mình.
Câu 2. (4,0 điểm)
Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận.
Thạch Lam từng quan niệm: Văn chương là một thứ khi giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tổ cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn. Đến với truyện ngắn Trở về, Thạch Lam đã dùng sức mạnh của thứ khí giới thanh cao kia để giúp con người thức tỉnh, nhận ra những sai lầm trong cách sống của con người hiện đại.
Thân bài:
* Khái quát chung: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm.
- Thạch Lam là một cây bút có biệt tài về truyện ngắn. Truyện ngắn của Thạch Lam thường có sự hòa quyện giữa hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình. Do đó truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện đặc biệt, mỗi truyện ngắn giống như một bài thơ trữ tình đượm buồn.
- Truyện ngắn Trở về là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, được in lần đầu trong tập Gió đầu mùa, NXB Đời nay, Hà Nội, 1937.
* Nêu và phân tích chủ đề:
+ Truyện ngắn Trở về (Thạch Lam) đã đặt ra những trăn trở về lối sống của một bộ phận con người thời hiện đại, mải mê chạy theo danh lợi mà quên đi những điều xưa cũ, chối bỏ quá khứ của chính mình. Nhân vật chính của truyện là nhân vật Tâm. Đã có thời Tâm cho rằng cuộc sống ở thôn quê là giản dị và sung sướng. Chàng đã mơ mộng sẽ yêu và lấy một cô thôn nữ, cùng nhau sống trong cảnh thanh bình dưới một túp lều tranh. Nhưng có lẽ ám ảnh với những cơ cực, thiếu thốn thủa thơ ấu nên khi có dịp lập nghiệp ở Hà Nội, Tâm dần quên đi gốc gác của mình, chối bỏ cả những gì vốn thân thuộc nhất với anh ta trước đây. Những thay đổi trong lối sống, suy nghĩ của Tâm thể hiện qua chuyến về thăm nhà sau 5, 6 năm xa cách: Tâm tự chế giễu cái ước mơ thủa xưa lấy cô gái thôn quê, sống cuộc đời đạm bạc của mình; giờ đây chàng không khi nào nghĩ đến cái ý tưởng điên rồ ấy nữa. Tâm cũng xa cách với chính người mẹ già của mình khi không hề để ý đến những lá thư bà cụ gửi, coi đó chỉ là những lời quê kệch. Tâm cho rằng mỗi tháng gửi về cho bà cụ một số tiền là đã làm đủ bổn phận của một người con, nên 5, 6 năm nay Tâm chưa hề về thăm mẹ. Chuyến về thăm chóng vánh chưa đầy một tiếng. Nếu với người mẹ già, đó là những giây phút cảm động đến ứa nước mặt thì với Tâm đó là làm xong bổn phận. Chi tiết cuối truyện càng tô đậm hơn sự đổi thay của lối sống con người khi mải miết chạy theo danh lợi, tiền bạc: Khi biết mẹ già ra tận ga để tiễn mình, thay vì cảm động, Tâm còn cảm thấy khó chịu với điều ấy. Khi cùng vợ đi ngang qua mẹ và cô Trinh, anh ta dửng dưng khi thấy chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Thạch Lam đã làm nổi bật sự suy đồi đạo đức của con người trong xã hội khi đồng tiền lên ngôi, phản ánh sự tha hóa nhân cách bằng ngòi bút đầy tinh tế. Nhà văn bày tỏ kín đáo tác giả cũng ngầm phê phán xã hội trọng vật chất; phê phán những kẻ ham chạy theo danh lợi mà quay lưng lại với quá khứ, với những người thân yêu của mình.
* Phân tích đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm:
+ Nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống truyện: Cốt truyện đơn giản, không có tình tiết gây cấn nhưng vẫn gây ấn tượng với người đọc bởi tình huống truyện tâm lí. Truyện xoay quanh dòng tâm trạng của nhân vật Tâm trong chuyến về thăm nhà; từ đó giúp người đọc khám phá sâu hơn những suy nghĩ, tính cách, sự đổi thay của nhân vật, làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của truyện.
+ Truyện kể theo trật tự thời gian tuyến tính nhưng đan xen một số hồi ức của nhân vật và một số chi tiết bất ngờ, lôi cuốn người đọc.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được khắc họa qua hành động, lời nói và đặc biệt là qua nghệ thuật miêu tả tâm lí. Cái tài của nhà văn là miêu tả được những giây phút giao tranh mơ hồ giữa sự lên tiếng của trái tim nơi chút tình quê còn sót lại với lí trí đã bị vật chất sai khiến, cám dỗ. Trong suy nghĩ của Tâm, đâu đó hình ảnh của cảnh thôn quê cũ, của những người anh đã từng gắn bó suốt thời ấu thơ thấp thoáng hiện lên, đó là người mẹ già, là cô Trinh – nhưng ngay sau đó tất cả đã bị lấn át, nhòe mờ đ bởi những gì xa hoa của cuộc sống chốn thượng lưu.
+ Ngôn ngữ giản dị, dùng từ tinh tế, chọn lọc.
Kết bài: Khẳng định giá trị của truyện ngắn, ý nghĩa của tác phẩm với người viết.
Quả thực, với Trở về, trang văn của Thạch Lam đã góp phần tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, đồng thời làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phủ hơn. Có lẽ vì thế mà sau hơn nửa thế kỉ, chúng ta vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và nhã thú khi đọc văn Thạch Lam.
ĐỀ THI VÀO LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018
ĐỀ 2
NĂM 2025-2026
Thời gian: 120 phút
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới
(1) Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ
Vô tư quá để bây giờ xao xuyến
Bèo lục bình mênh mang màu mực tím
Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông…
(2) Ta lớn lên bối rồi một sắc hồng
Phượng cứ nở hoài như đếm tuổi
Như chiều nay, một buổi chiều dữ dội
Ta nhận ra mình đang lớn khôn…
(3) Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng
Rút những cọng rơm vàng về kết tổ
Đã dạy ta với cánh diều thơ nhỏ
Biết kéo về cả một sắc trời xanh…
(4) Biết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành
“Tuổi của mụ” con nằm trong bụng mẹ
Để con quý yêu tháng ngày tuổi trẻ
Buổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi…
(Trích chương I, Lời chào, trường ca Mặt đường khát vọng,
Nguyễn Khoa Điềm, NXB Văn nghệ giải phóng, 1974)
Hãy lựa chọn đáp án đúng nhất từ câu 1 đến câu 8 và trình bày vào trong bài thi
Câu 1. Đoạn trích được làm theo thể thơ nào?
A. Thể thơ tự do
B. Thể thơ lục bát
C. Thể thơ bảy chữ
D. Thể thơ tám chữ
Câu 2. “Sắc hồng” trong câu thơ “Ta lớn lên bối rồi một sắc hồng” là của sự vật nào?
A. Hoa mào gà
B. Hoa phượng
C. Chim sẻ
D. Cánh diều
Câu 3. Từ nào sau đây không phải từ láy?
A. xao xuyến
B. mênh mang
C. thiếu thời
D. bối rối
Câu 4. Vì sao nhân vật trữ tình biết ơn những cánh sẻ nâu?
A. Đã rút những vọng rơm vàng về kết tổ
C. Giúp ta biết quý yêu tháng ngày tuổi trẻ
B. Đã dạy ta với cánh diều, kéo về cả sắc trời xanh
D. Giúp ta nhận ra mình đã lớn khôn
Câu 5. Hiểu thế nào về cụm từ “tuổi của mụ”?
A. Tuổi của mẹ
C. Tuổi được tính từ trong bụng mẹ
B. Tuổi trưởng thành
D. Tuổi trẻ của mỗi người
Câu 6. Câu thơ: “Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông…” sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. So sánh
C. Nhân hoá
B. Nhân hoá và so sánh
D. Ẩn dụ và so sánh
Câu 7. Ý nào nhận xét không đúng về các hình ảnh được nhắc đến trong đoạn trích?
A. Là những hình ảnh đẹp đẽ, trong sáng về những năm tháng tuổi niên thiếu
B. Là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với mỗi người
C. Là những hình ảnh kì vĩ, lớn lao trong những năm tháng ta đã đi qua
D. Là những hình ảnh gợi cảm xúc về thủa thiếu thời
Câu 8. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình thể hiện qua đoạn trích?
A. Xao xuyến, bồi hồi và tiếc nuối về những tháng ngày thơ ấu đẹp đẽ.
B. Thể hiện niềm trân trọng đối với những điều bình dị, thân thuộc quanh mình.
C. Lòng biết ơn về công lao sinh thành của người con đối với người mẹ.
D. Tất cả đáp án trên.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Nêu hiệu quả của phép điệp được sử dụng trong hai khổ cuối đoạn trích?
Câu 10. Bức thông điệp ý nghĩa nhất từ đoạn thơ trên là gì? Hãy lí giải.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1. Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ ), trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của thái độ sống tích cực.
Câu 2: Viết bài văn phân tích truyện ngắn “Bố tôi” của Nguyễn Ngọc Thuần
BỐ TÔI
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ nơi núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.
Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: Con mình vừa gửi thư về. Mẹ tôi hỏi:Thư đâu?. Ông trao thư cho bà. Bà lại cẩn thận mở nó ra, khen: Ôi, con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những cái móc thật bén. Chỉ tiếc rằng không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm?. Ông nói: Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày khai trường đầu tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.
(Theo Nguyễn Ngọc Thuần)
Chú thích:
Nguyễn Ngọc Thuần (1972) quê ở Tân Thiện - Hàm Tân, Bình Thuận, là một nhà văn trẻ đầy triển vọng ở thể loại văn xuôi đương đại, là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm của ông được viết bằng cả tấm lòng yêu trẻ thơ, hóa thân thành một người bạn đồng trang lứa tạo nên thế giới trong từng trang văn sự giản dị, thân thuộc, bình yên, trong sáng, tinh khiết như tâm hồn của trẻ nhỏ, ngôn từ, giọng văn đầy chất cổ tích, tạo cảm giác đa chiều trong mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau hay nhân vật với độc giả. Nguyễn Ngọc Thuần bước lên đỉnh cao thành công của văn chương, với hàng loạt các giải thưởng như: “Giăng giăng tơ nhện” (giải thưởng Văn học tuổi hai mươi lần II); “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”, NXB Trẻ 2000, giải nhất cuộc thi Văn học Thiếu nhi lần III, giải Peter Pan (giải thưởng của Thụy Điển dành cho tác phẩm thiếu nhi hay nhất; “Một thiên nằm mộng” - giải A cuộc vận động sáng tác văn học thiếu nhi của NXB Kim Đồng 2001-2002; “Nhện ảo” - giải A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi 2003, giải B (không có giải A) cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ do NXB Thanh niên phối hợp với NXB Văn nghệ tổ chức cho tác phẩm “Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ”…
Truyện ngắn “Bố tôi” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Thuần.
---- Hết ----
Giám thị coi thi không giải thích gì thêm. Học sinh không được sử dụng tài liệu.
HƯỚNG DẪN CHẤM
KÌ THI VÀO LỚP 10 - THPT
MÔN: NGỮ VĂN
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
PHẦN I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1
A
Thể thơ tự do
0,25
2
B
Hoa phượng
0,25
3
C
thiếu thời
0,25
4
B
Đã dạy ta với cánh diều, kéo về cả sắc trời xanh
0,25
5
C
Tuổi được tính từ trong bụng mẹ
0,25
6
D
Ẩn dụ và so sánh
0,25
7
C
Là những hình ảnh kì vĩ, lớn lao trong những năm tháng ta đã đi qua
0,25
8
D
Tất cả đáp án trên
0,25
9
Yêu cầu: Diễn đạt thành một câu trả lời ngắn. Có hình thức một đoạn văn hoàn chỉnh. Dưới đây là một số gợi ý.
- Phép điệp ngữ: “Biết ơn”
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho lời thơ, khiến đoạn thơ giàu nhạc điệu.
+ Nhấn mạnh sự thức nhận và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với mẹ và những điều bình dị xung quanh đã giúp nhà thơ dần trưởng thành và biết trân trọng tuổi trẻ.
1,0
10
Yêu cầu: Diễn đạt thành một câu trả lời ngắn. Có hình thức một đoạn văn hoàn chỉnh.Dưới đây là một số gợi ý định hướng cho việc chấm bài:
Có thể lựa chọn: Thông điệp về lòng biết ơn; cần biết trận trọng những điều bình dị quanh mình,... Ví dụ:
- Thông điệp: Trong cuộc sống, mỗi người cần biết nuôi dưỡng lòng biết ơn
- Lí giải:
+ Lòng biết ơn giúp phát huy, kế thừa truyền thống tốt đẹp, giúp con người sống có tình nghĩa, biết yêu thương, san sẻ, gắn kết giữa con người với con người.
+ Lòng biết ơn giúp con người hoàn thiện về nhân cách, hướng con người ta đến lối sống nghĩa tình, lành mạnh.
+ Lòng biết ơn giúp gây dựng những mối quan hệ tốt đẹp.
1,0
PHẦN II: VIẾT
Câu 1: (2 điểm)
a. Đảm bảo thể thức của một đoạn văn: Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn: nêu được vấn đề, phát triển đoạn: triển khai được vấn đề, kết đoạn: kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần trình bày: ý nghĩa của thái độ sống tích cực.
c. Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có thể viết đoạn văn theo hướng sau:
* Giới thiệu khái quát về ý nghĩa của thái độ sống tích cực..
* Giải thích:
- Thái độ sống tích cực: Thái độ chủ động trước cuộc sống, được biểu hiện thông qua cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động.
* Bàn luận:
+ Người có thái độ sống tích cực cơ hội thành công trong cuộc sống sẽ cao hơn đồng nghĩa với việc tạo dựng được những thành quả từ chính sức lực, trí tuệ, lối sống của mình.
+ Những giá trị vật chất sẽ đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của cá nhân, góp phần giúp đỡ người thân, cộng đồng.
+ Những giá trị tinh thần đem lại cho con người nhiều niềm vui, niềm hạnh phúc khi thấy cuộc sống của mình có ích, có nghĩa, được quý trọng, có được sự tự chủ, niềm lạc quan, sự vững vàng từ những trải nghiệm cuộc sống.
- Với xã hội: Thái độ sống tích cực của cá nhân góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, tiến bộ.
- Phản đề: Trong cuộc sộng hiện tại, vẫn còn một số người dễ nản chí, trước khó khăn thường rơi vào bi quan chán nản, dẫn đến cái nhìn về cuộc sống bằng con mắt tiêu cực. Những người như vậy thường chuốc lấy thất bại.
* Bài học nhận thức và hành động: Cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa to lớn của thái độ sống tích cực nhất là trong xu thế hội nhập của đất nước.
- Hãy tích cực phấn đấu rèn luyện trong học tập, trong cuộc sống, bồi dưỡng lòng tự tin, ý thức tự chủ.
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận
e. Chính tả, dùng từ đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.
0,25
0,25
1,0
0,25
0,25
Câu 2 (4điểm)
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Có đầy đủ 3 phần Mở bài; Thân bài; Kết bài
0,25
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Phân tích truyện ngắn “Bố tôi” của Nguyễn Ngọc Thuần
0,25
c. Nội dung phân tích: HS có thể triển khai bài văn theo nhiều cách. Dưới đây là một số gợi ý định hướng cho việc chấm bài:
A. Mở bài.
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề.
B. Thân bài
1. Tiền đề phân tích.
- Vài nét về tác giả, tác phẩm.
+ Nguyễn Ngọc Thuần sinh năm 1972 ở Bình Thuận. Ông là cây bút chuyên sáng tác cho trẻ em. Các tác phẩm của ông được viết bằng cả tấm lòng yêu trẻ thơ, hóa thân thành một người bạn đồng trang lứa tạo nên thế giới trong từng trang văn sự giản dị, thân thuộc, bình yên, trong sáng, tinh khiết như tâm hồn của trẻ nhỏ, ngôn từ, giọng văn đầy chất cổ tích, tạo cảm giác đa chiều trong mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau hay nhân vật với độc giả.
+ Truyện ngắn “Bố tôi” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn.
+ Với truyện ngắn “Bố tôi”, Nguyễn Ngọc Thuần đã xây dựng thành công hình ảnh người bố - một người đàn ông miền núi chất phác, hiền hậu, hết lòng yêu thương con, trân trọng tình cảm gia đình.
2. Lần lượt phân tích để làm sáng tỏ nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật
2.1. Phân tích nội dung để làm sáng tỏ chủ đề: Truyện ngắn “Bố tôi” ca ngợi sự hi sinh, yêu thương con vô bờ của người bố đối với các con của mình. Khẳng định tình cha con là thiêng liêng và sâu nặng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
a. Hình ảnh người miền núi nghèo, tần tảo, vất vả, một nắng hai sương làm nương rẫy ở trên vùng núi cao và không có điều kiện để đi học
+ Còn bố tôi từ một vùng núi cao xa xôi
+ Đi chân đất xuống núi
+ Không biết chữ
+ Cha con xa nhau chỉ có cách liên lạc là qua những bức thư
+ Đối với người dân miền núi, nuôi con học đại học không phải là việc dễ dành nhưng ông vẫn cố gắng hết mình cho con theo học đại học
b. Một người cha yêu con, tinh tế, thấu hiểu tâm tư tình cảm của con
+ Một người cha luôn quan tâm, dõi theo con: Cuối mỗi tuần, bao giờ ông cũng mặc chiếc áo phẳng phiu nhất, đi chân đất xuống núi, rẽ vào bưu điện để nhận lá thư con gửi
+ Một người cha trân trọng, nâng niu tất cả những gì thuộc về con: Rồi ông lấy lại lá thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm vào mặt rồi cất đi, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt.
+ Một người cha tinh tế, thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của con mình: Ông không biết chữ, không đọc được những dòng thư con viết những bằng trái tim giàu tình yêu thương, ông lại biết con muốn nói những gì, cảm nhận được tình yêu, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân của con.
2.2. Đặc sắc về hình thức nghệ thuật:
- Nhan đề ngắn gọn, nhưng đã gợi ra chủ đề chính của truyện
- Cốt truyện đơn tuyến.
- Xây dựng nhân vật chủ yếu qua ngoại hình, hành động, lời nói
- Cách kể chuyện bằng ngôi thứ nhất làm cho câu chuyện chân thực, sinh động, nhân vật dễ bộc lộ cảm xúc.
- Kết thúc bất ngờ để lại nhiều dư âm, cảm động trong lòng bạn đọc về tình phụ tử thiêng liêng, vĩnh cửu: Người bố mất, nhưng tôi biết chắc chắn, bố sẽ đi cùng tôi trên con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả cuộc đời.
3. Đánh giá chung:
- Khẳng định khái quát những nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của truyện.
- Tài năng của tác giả, sức sống của tác phẩm.
3.0
0.5
0,5
1.5
0.5
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có tình cảm sâu sắc, chân thành.
0,25
e. Chính tả, dùng từ đặt câu: Đảm bảo đúng chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.
0,25
* Lưu ý khi chấm bài:
1. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm.
2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.
3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.
4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.
ĐỀ THI VÀO LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018
ĐỀ 3
NĂM 2025-2026
Thời gian: 120 phút
I. TRẮC NGHIỆM (4 điểm) Trả lời câu hỏi bằng cách chọn đáp án đúng nhất
“Tri thức giống như ngọn đèn trong đêm tối, soi sáng con đường chông gai phía trước. Trí tuệ giống như chiếc chìa khóa diệu kì, mở ra cánh cửa tâm hồn. Trí tuệ giống như tia nắng mặt trời ấm áp xua tan bóng tối lạnh giá. Đấng tạo hóa có trí tuệ thì mới tạo ra một thế giới diệu kì, nhân loại có trí tuệ chỉ đường sẽ bước sang thế giới hiện đại văn minh. Khi có trí tuệ bạn sẽ dễ dàng gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Bảy trăm năm trước, Giovanni Boccaccio đã nói: “Trí tuệ là cội nguồn hạnh phúc của con người”.Thật vậy, có trí tuệ, bạn sẽ có nhiều niềm vui và mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh.”
(Trích “Kĩ năng sống dành cho học sinh”- Ngọc Linh, NXB Thế giới, 2019)
Câu 1: Đoạn trích trên thuộc kiểu văn bản nào?
A.Tự sự B. Miêu tả C.Nghị luận D.Thuyết minh
Câu 2: Luận đề của đoạn trích trên là gì?
A. Vai trò của trí tuệ B. Cách rèn luyện trí tuệ
C. Khái niệm trí tuệ D. Biểu hiện của trí tuệ
Câu 3: Câu văn Bảy trăm năm trước, Giovanni Boccaccio đã nói: “Trí tuệ là cội nguồn hạnh phúc của con người”có vai trò gì trong đoạn văn?
A. Là lí lẽ B. Là dẫn chứng
C. Vừa là lí lẽ vừa là dẫn chứng D. Là luận điểm
Câu 4: Đoạn văn trên được triển khai theo cách nào?
A. Diễn dịch B. Qui nạp C. Song hành C. Phối hợp
Câu 5: Trong 2 câu sau, tác giả đã sử dụng phép liên kết nào ?
“Trí tuệ giống như chiếc chìa khóa diệu kì, mở ra cánh cửa tâm hồn. Trí tuệ giống như tia nắng mặt trời ấm áp xua tan bóng tối lạnh giá”
A. Phép nối B. Phép lặp
C. Phép liên tưởng D. Phép thế
Câu 6: Có thể thay thế từ “thật vậy” trong câu sau bằng từ lập luận nào?
“Thật vậy, có trí tuệ, bạn sẽ có nhiều niềm vui và mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh.”
A. Nói tóm lại B. Mặt khác C. Ngoài ra D. Đồng thời
Câu 7: Dòng nào nói không đúng về ý nghĩa của câu văn “Tri thức giống như ngọn đèn trong đêm tối, soi sáng con đường chông gai phía trước”
A. Ca ngợi sức mạnh kì diệu của tri thức
B. Nói về khả năng đầy lùi bóng tối ngu dốt của tri thức
C.Nói về khả năng giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách của tri thức
D. Nói về sự giống nhau giữa tri thức và ngọn đèn
Câu 8: Nội dung chính của đoạn trích trên là:
A. Đề cao vai trò của trí tuệ trong cuộc sống của con người.
B. Khẳng định tri thức là cuội nguồn sức mạnh của con người.
C. Đề cao vai trò của những người có trí tuệ
D. Nhấn mạnh sức mạnh kì diệu của trí tuệ đối với cuộc sống của con người.
Câu 9: Tìm và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong những câu sau ?
“Trí tuệ giống như chiếc chìa khóa diệu kì, mở ra cánh cửa tâm hồn. Trí tuệ giống như tia nắng mặt trời ấm áp xua tan bóng tối lạnh giá”
Câu 10: Em hãy rút ra thông điệp của văn bản. Theo em, làm thế nào để trở thành người có tri thức?
II. VIẾT (6 điểm)
Câu 1. ( 2 điểm) Hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày ý nghĩa của việc học tập?
Câu 2. (4 điểm) Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ sau:
CHỊ TÔI
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Cánh cò đội nắng đội mưa
Chị tôi đội cả sáng trưa tối ngày.
Một đời chị gánh đắng cay
Thảo thơm ngon ngọt giành bầy con thơ.
Nghiêng nghiêng cánh vạc bơ vơ
Một đời chị đã đợi chờ nhớ thương.
Chồng con nằm lại chiến trường
Chị tôi son sắt yêu thương nặng đầy.
Cánh cò cánh vạc vẫn bay
Chị sống lặng lẽ giữa ngày thanh xuân.
Một đời vất vả gian truân
Chị sống ân nghĩa, tảo tần, thủy chung.
17/2/2020
Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Hạnh, sinh ngày 18/9/1957 tại thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Nguyên là giáo viên dạy văn trường THPT Đinh Tiên Hoàng thành phố Ninh Bình. Hiện đã nghỉ hưu tại thành phố Ninh Bình. Thơ của chị dạt dào cảm xúc, sâu lắng tình người, tình quê hương đất nước, lời thơ giản dị, dễ đi vào lòng người và luôn được bạn đọc yêu thích đón nhận.
ĐÁP ÁN, BIỂU ĐIỂM:
CÂU
YÊU CẦU
ĐIỂM
1
C
0.25
2
A
0.25
3
B
0.25
4
B
0.25
5
B
onthicaptoc.com Bo de on thi vao 10 Ngu van 2025 2026
( Năm học 2023-2024)
I. Thời gian làm bài: 90 phút
ĐỀ LUYỆN SỐ 1
Môn: Ngữ văn lớp 10
KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 1
Đề 1. Viết bài văn nghị luận (400 – 600) từ thuyết phục người khác từ bỏ thói quen ghen tị (so sánh, đố kị) với người khác.
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
SỨC CỎ
VĂN BẢN 1
THẦN TRỤ TRỜI
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đọc đoạn trích sau:
Bây giờ là buổi trưa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.