SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10
QUẢNG NGÃI NĂM HỌC 2016 – 2017
ĐỀ CHÍNH THỨC
Ngày thi: 15/6/2016
Môn: Ngữ văn (hệ chuyên) Thời gian làm bài: 150 phút
(không kể thời gian giao đề)
Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu dưới:
Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột.
(Vũ Bằng, Mùa xuân của tôi, Ngữ văn 7,
tập 1, NXB Giáo dục, 2006, trang 175)
Câu 1. Cho biết phương thức biểu đạt của đoạn văn.
Câu 2. Nêu ngắn gọn nội dung đoạn văn.
Câu 3. Xét về cấu tạo ngữ pháp, câu: “Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ.” thuộc kiểu câu gì?
Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của những biện pháp tu từ trong đoạn văn: “Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột.”
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng: chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới thì “… có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất” (SGK Ngữ văn 9, tập 2).
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Câu 2. (5,0 điểm)
Văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX vừa phản ánh hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam với bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị, vừa đề cập đến số phận bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng nhân đạo của các tác giả trước số phận con người.
Chọn một số tác phẩm hoặc đoạn trích trong chương trình Ngữ văn lớp 9, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
--------HẾT-------
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10
QUẢNG NGÃI
ĐỀ CHÍNH THỨC
NĂM HỌC 2016 – 2017
Ngày thi: 15/6/2016
Môn thi: Ngữ văn (hệ chuyên)
Thời gian làm bài: 150 phút
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)
Câu 1. Phương thức biểu đạt của đoạn văn: miêu tả, biểu cảm.
- Điểm 0,5: Trả lời đúng như trên.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng 1/2 yêu cầu trên.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 2. Nội dung đoạn văn: Miêu tả đặc điểm của mùa xuân và cảm xúc yêu thích trước sự đổi thay của cảnh vật.
- Điểm 0,5: Trả lời đúng như trên.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng 1/2 yêu cầu trên.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 3. Câu: “Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ.” thuộc kiểu câu ghép.
- Điểm 0,5: Trả lời đúng như trên.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 4. Đoạn văn: “Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng rung động như cánh con ve mới lột” tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật :
+ Nhân hóa : Vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa.
+ So sánh : những làn sáng hồng hồng trên nền trời so sánh với cánh con ve mới lột.
- Điểm 0,5: Chỉ ra được 2 biện pháp tu từ nêu trên.
- Điểm 0,25: Chỉ ra 1 biện pháp tu từ.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
+ Tác dụng của phép nhân hóa: làm cho hình ảnh miêu tả trở nên sinh động, thân quen, gần gũi.
- Điểm 0,5: Trả lời đủ các ý như trên.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng nhưng chưa rõ ràng hoặc dài dòng.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
+ Tác dụng của phép so sánh : làm nổi bật lên vẻ trong suốt, mềm mại của nền trời.
- Điểm 0,5: Trả lời đủ các ý như trên.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng nhưng chưa rõ ràng hoặc dài dòng.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
I. Yêu cầu chung
- Học sinh biết vận dụng kiến thức và kĩ năng về dạng văn nghị luận xã hội để tạo lập văn bản.
- Văn bản phải có kết cấu rõ ràng. Viết đúng chủ đề, diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ, không sai lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
II. Yêu cầu cụ thể
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận. (0,25 điểm) Việc chuẩn bị bản thân con người khi bước vào thế kỉ mới, giai đoạn mới.
- Điểm 0,5: Đảm bảo đúng yêu cầu.
- Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề nghị luận.
- Điểm 0: Xác định chưa đúng vấn đề.
b. Viết đúng cấu trúc văn bản. (0,25 điểm)
- Điểm 0,25: Đảm bảo đúng cấu trúc của văn bản: có đủ mở bài, thân bài, kết bài.
- Điểm 0: Viết thành đoạn văn.
c. Diễn đạt trôi chảy, không sai lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. (0,25 điểm)
- Điểm 0,25: Đảm bảo các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Mắc một trong các lỗi: diễn đạt, đặt câu, dùng từ, chính tả.
d. Triển khai luận điểm một cách hợp lí, đúng kiểu văn bản nghị luận. (1,25 điểm)
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo tính liên kết về nội dung và hình thức; các ý có thể theo định hướng sau:
+ Ý kiến thể hiện sự hiểu biết, nhận thức, suy nghĩ đúng khi tác giả khẳng định trong những hành trang bước vào thế kỉ mới thì sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.
+ Tại sao sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất? (Con người là động lực của sự phát triển của lịch sử, con người càng giữ vai trò nổi bật trong nền kinh tế tri thức phát triển mạnh; con người càng chuẩn bị tốt cho bản thân bao nhiêu thì càng phát huy được vai trò bấy nhiêu…).
+ Vậy con người phải chuẩn bị những gì cho bản thân khi bước vào thế kỉ mới? (tri thức, nhân cách, kĩ năng sống, ….)
+ Nêu bài học cho bản thân rút ra từ ý nghĩa câu nói của nguyên Phó Thủ tướng.
- Điểm 1,25 : Đảm bảo đúng yêu cầu. Khuyến khích những bài có sáng tạo hợp lí.
- Điểm 1,0 : Đảm bảo các ý cơ bản theo yêu cầu nhưng còn mắc lỗi liên kết.
- Điểm 0,75: Đáp ứng 1/2 yêu cầu trên.
- Điểm 0,5: Viết được một vài ý đúng nhưng triển khai chưa hợp lí, còn mắc lỗi liên kết.
- Điểm 0,25 : Viết dài dòng, lan man chưa rõ ý
- Điểm 0: Không đáp ứng các yêu cầu trên hoặc không làm bài.
Câu 2. (5,0 điểm)
I. Yêu cầu chung
- Có kỹ năng nghị luận về một vấn đề văn học; xây dựng được những luận điểm có sức thuyết phục; biết phân tích, nhận xét, đánh giá, tổng hợp; biết lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu, sát hợp.
- Có kiến thức về lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVI – XIX với những tác phẩm tiêu biểu.
- Bài viết đảm bảo bố cục đầy đủ, rõ ràng; luận điểm chính xác; diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, có cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Khuyến khích bài viết sáng tạo.
II. Yêu cầu cụ thể
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận. (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần: mở bài, thân bài, kết bài. Phần mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần kết bài khái quát được vấn đề. Bài viết thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu sắc.
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài nhưng các phần chưa thể hiện đầy đủ các yêu cầu nêu trên; phần thân bài chỉ có một đoạn văn.
- Điểm 0: Bài văn đáp ứng không rõ ràng các yêu cầu nêu trên.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận. (0,5 điểm)
Vấn đề cần nghị luận: Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam với bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị, số phận bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ, tấm lòng nhân đạo của các tác giả trước số phận con người.
- Điểm 0,5: Xác định rõ vấn đề nghị luận.
- Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận hoặc nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c. Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận phân tích, chứng minh, bình luận để triển khai các luận điểm. (3,0 điểm)
- Điểm 3,0: Đảm bảo các yêu cầu trên, có thể có nhiều cách trình bày, xây dựng luận điểm, song cần đảm bảo những nội dung cơ bản sau:
1. Giới thiệu và đánh giá khái quát.
- Giới thiệu về văn học trung đại Việt Nam: Đây là thời kì văn học ra đời và phát triển dưới các triều đại phong kiến Việt Nam.
- Những tác phẩm/ đoạn trích văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn lớp 9 là những tác phẩm ra đời trong thời kì xã hội phong kiến Việt Nam mục ruỗng. Vì vậy, hiện thực xã hội được phản ánh trong các tác phẩm/ đoạn trích là bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị với những thế lực đã chà đạp lên con người, nhưng cũng qua những tác phẩm/ đoạn trích ấy, người đọc thấy được vẻ đẹp của người phụ nữ và tấm lòng nhân đạo của các tác giả trước số phận con người.
2. Chứng minh vấn đề qua các văn bản được học và đọc thêm.
a. Văn học trung đại Việt Nam đã phản ánh hiện thực rối ren, bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của xã hội phong kiến.
- Chuyện người con gái Nam Xương (của Nguyễn Dữ): chiến tranh phi nghĩa đã gây ra bao bất hạnh cho con người: mẹ lìa con, vợ xa chồng, con không được nhận sự chăm sóc yêu thương từ người cha; chế độ nam quyền.
- Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ): phản ánh cuộc sống xa hoa, trụy lạc của tầng lớp vua chúa, sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh.
- Hoàng Lê nhất thống chí (của Ngô gia văn phái): sự rối ren của xã hôi phong kiến được phản ánh thông qua số phận bi thảm, bộ mặt hèn nhát thần phục ngoại bang của lũ vua quan bán nước, hại dân.
b. Số phận khổ đau, bị chà đạp của con người.
- Là số phận oan trái, bi kịch của Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ): bị chồng nghi ngờ về lòng chung thủy, bị dồn vào bước đường cùng phải tìm đến cái chết.
- Là cảnh bị cướp bóc ghê rợn, đau thương của dân lành (Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ).
- Là số phận chìm nổi của Thúy Kiều, một người con gái tài sắc, đang sống trong cảnh ấm êm bỗng chốc rơi và thảm cảnh, tình yêu tan vỡ, trở thành món hàng trong tay bọn buôn thịt bán người, bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích với bao nhiêu bẽ bàng, chua xót (các trích đoạn “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).
c. Vẻ đẹp của người phụ nữ.
- Vẻ đẹp của nhan sắc, tài năng (Vũ Nương, Thúy Vân, Thúy Kiều)
- Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm hạnh: hiếu thảo, thủy chung, son sắt (Vũ Nương, Thúy Kiều).
- Khát khao hạnh phúc (Vũ Nương, Thúy Kiều).
d. Tấm lòng nhân đạo của các tác giả:
- Lên án, tố cáo thế lực tàn bạo đã chà đạp lên con người.
- Thương cảm trước những đau khổ, bi kịch của con người.
- Khẳng định, đề cao con người.
- Đề cao tấm lòng nhân hậu, đề cao ước mơ công lý.
3. Đánh giá chung.
- Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện vừa sâu sắc trên nhiều phương diện, vừa sinh động dưới nhiều hình thức thể loại. Hiện thực ấy đã dược các tác giả tái hiện lại thành bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn nhất định. Làm nên giá trị hiện thực là một trong những phương diện quan trọng của tác phẩm.
- Thông qua hiện thực xã hội, các tác giả văn học giai đoạn này đã lên án, tố cáo đanh thép xã hội phong kiến, thể hiện sự bất bình đối với xã hội, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ con người. Qua các văn bản văn học trung đại Việt Nam được học trong chương trình lớp 9, người đọc hiểu được tài năng và tấm lòng của các tác giả đối với đất nước, con người.
Cho điểm: ý 1: 0,5 điểm; ý 2: 2,0 điểm; ý 3: 0,5 điểm
- Điểm 2,5 - 2,75: Đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm phân tích, chứng minh chưa thực sự chặt chẽ.
- Điểm 2,0 - 2,25: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm phân tích, trình bày chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa chặt chẽ.
- Điểm 1,5 – 1,75: Đáp ứng 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 1,0 – 1,25: Đáp ứng 1/2 đến các yêu cầu trên.
- Điểm 0,25 – 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
d. Sáng tạo. (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm); văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt.
- Điểm 0,25: Diễn đạt hay, có một vài ý sáng tạo.
- Điểm 0: Diễn đạt không có gì độc đáo và sáng tạo.
e. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. (0,5 điểm)
- Điểm 0,5 : Không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
- Điểm 0,25 : Mắc một số lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
- Điểm 0 : Mắc nhiều lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
Lưu ý: Trên đây là những gợi ý có tính chất định hướng, tổ chấm thảo luận và thống nhất cách đánh giá, cho điểm phù hợp với thực tế bài làm của học sinh. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo.
onthicaptoc.com Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên môn Văn năm 2016 2017 tỉnh Quảng Ngãi có đáp án
Câu 1.
1) Tính giá trị của biểu thức tại
KÌ THI HỌC KÌ I
TRƯỜNG THPT .............
MÔN ĐỊA LÍ - LỚP 10
ĐỀ CHÍNH THỨC
TỈNH / THÀNH PHỐ ………….
ĐỀ THI ĐỀ NGHỊ
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 LẦN 1
NĂM HỌC 2017 - 2018
NĂM 2019 - 2020 CÓ ĐÁP ÁN
ĐỀ 1
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I
TRƯỜNG THPT ..............