onthicaptoc.com
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
PHÒNG GD&ĐT THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
ĐỀ THI HSG CẤP THỊ XÃ
NĂM HỌC 2023 – 2024
MÔN: NGỮ VĂN 7
Thời gian: 120 phút
(không kể thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Gồm 02 trang)
Phần I. Đọc hiểu (6.0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện những yêu cầu bên dưới:
“Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa mưa đêm
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.
......
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người người”
(Trích bài thơ “Quê hương” – Đỗ Trung Quân)
Câu 1. (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ?
Câu 2. (1.5 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn thơ?
Câu 3. (2.0 điểm) Tìm và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ?
Câu 4. (2.0 điểm) Qua đoạn thơ tác giả muốn gửi tới người đọc thông điệp gì?
Phần II. Làm văn (14.0 điểm)
Câu 1. (4.0 điểm)
Từ nội dung đoạn thơ phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu quê hương của mỗi người.
Câu 2. (10.0 điểm)
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người”.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích nhân vật “tôi” trong câu chuyện dưới đây để thấy rõ điều tâm niệm đó.
Người ăn xin
Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi.
Đôi mắt ông lão đỏ đọc và giàn giụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại… Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!
Ông già chìa trước mặt tôi bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ cầu xin cứu giúp.
Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì.
Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra, run lẩy bẩy.
Tôi chẳng biết làm cách nào. Tôi nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia:
- Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.
Người ăn xin nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt ướt đẫm. Đôi môi tái nhợt nở nụ cười và tay ông cũng xiết lấy tay tôi:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. – Ông lão nói bằng giọng khản đặc.
Khi ấy, tôi chợt hiểu rằng: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.
(Theo Tuốc-ghê-nhép)
..................................................HẾT.................................................
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ………………………………… Số báo danh…......................................
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
PHÒNG GD&ĐT THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
ĐỀ THI HSG CẤP THỊ XÃ NĂM HỌC 2023 – 2024
MÔN: NGỮ VĂN 7
Thời gian: 120 phút
(không kể thời gian giao đề)
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐIỂM
(Gồm 05 trang)
Phần
Câu
Nội dung
Số điểm
I. Đọc - hiểu
1
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
0.5đ
2
Đoạn thơ đã thể hiện được tình cảm yêu thương, gắn bó tha thiết, sâu sắc của nhà thơ với quê hương yêu dấu.
1.5đ
3
- Các biện pháp tu từ:
+ Điệp ngữ “quê hương” được lặp lại 4 lần.
+ So sánh: Quê hương là vòng tay ấm, là đêm trăng tỏ, như là chỉ một mẹ thôi.
- Tác dụng: nhấn mạnh tình yêu tha thiết, sự gắn bó sâu nặng với quê hương của tác giả. Đồng thời đã làm nổi bật hình ảnh quê hương thật bình dị, mộc mạc nhưng cũng thật ấm áp, gần gũi, thân thương, máu thịt, thắm thiết.
2.0đ
4
- Trình bày thành một đoạn văn (từ 5-7 câu)
- Học sinh xác định thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân.
+ Vai trò của quê hương.
+ Giáo dục tình yêu quê hương.
2.0đ
II. Làm văn
1
Trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu quê hương của mỗi người.
4.0đ
a. Đảm bảo thình thức của đoạn văn nghị luận: bố cục 3 phần Mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
0.5đ
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình yêu quê hương của mỗi người.
0.5đ
c. Nội dung:
Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: Học sinh có thể viết đoạn văn theo định hướng sau:
+ Tình yêu quê hương:
+ Là tình cảm tự nhiên mang giá trị, thuần khiết trong tâm hồn mỗi con người. Quê hương chính là nguồn cội, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó, nuôi dưỡng sự sống, đặc biệt là đời sống tâm hồn của mỗi người.
+ Quê hương là bến đỗ bình yên, là điểm tựa tinh thần của con người trong cuộc sống. Dù đi đâu, ở đâu hãy luôn nhớ về nguồn cội. (dẫn chứng).
+ Tình cảm đối với quê hương sẽ gợi nhắc đến tình yêu đất nước. Hướng về quê hương không có nghĩa chỉ hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra mà phải hướng tới tình cảm lớn lao, thiêng liêng bao trùm là Tổ quốc.
+ Có thái độ phê phán trước những hành vi: không coi trọng quê hương, suy nghĩ chưa tích cực về quê hương: chê quê hương nghèo khó lạc hậu, phản bội lại quê hương; không có ý thức xây dựng quê hương.
+ Có nhận thức đúng đắn về tình cảm với quê hương; có ý thức tu dưỡng, học tập, phấn đấu xây dựng quê hương; Xây đắp, bảo vệ quê hương, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người
2.0đ
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, suy nghĩ riêng, mới mẻ, phù hợp với vấn đề nghị luận.
0.5đ
e. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo các quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.
0.5đ
2
Em hãy làm sáng tỏ nội dung sau đây bằng một bài văn nghị luận. Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người”.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích nhân vật “tôi” trong câu chuyện dưới đây để thấy rõ điều tâm niệm đó.
Người ăn xin
Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi.
Đôi mắt ông lão đỏ đọc và giàn giụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại... Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!
Ông già chìa trước mặt tôi bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ cầu xin cứu giúp.
Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì.
Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra, run lẩy bẩy.
Tôi chẳng biết làm cách nào. Tôi nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia:
- Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.
Người ăn xin nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt ướt đẫm. Đôi môi tái nhợt nở nụ cười và tay ông cũng xiết lấy tay tôi:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. - Ông lão nói bằng giọng khản đặc.
Khi ấy, tôi chợt hiểu rằng: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.
(Theo Tuốc-ghê-nhép)
10.0đ
a. Bài viết đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: có đầy đủ ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1.0đ
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: thiên chức “đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người” của nhà văn thể hiện sâu sắc qua truyện ngắn “Người ăn xin”.
1.0đ
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng.
Có thể viết bài văn theo định hướng sau:
* Mở bài:
- Dẫn dắt, trích ý kiến của Nguyễn Minh Châu.
- Nêu vấn đề: thiên chức “đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người”của người cầm bút đã được nhà văn nga Ivan Turgenev thể hiện sâu sắc qua mẩu truyện ngắn “ Người ăn xin” với việc khắc họa nhân vật “tôi” - một cậu bé có tấm lòng cao đẹp..
* Thân bài:
- Giải thích ý kiến nhận định.
- Nhà văn là người sáng tác ra các tác phẩm văn học.
- “gắng đi tìm” chính là quá trình tìm hiểu, phát hiện, ngợi ca con người.
- Nguyễn Minh Châu dùng cách nói giàu hình ảnh “những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người” để nói về vẻ đẹp ẩn sâu khuất lấp bên trong con người.
Tóm lại: Nguyễn Minh Châu muốn khẳng định thiên chức của người cầm bút (nhà văn) là phải đi tìm, khám phá những vẻ đẹp cao quý, ẩn sâu trong tâm hồn con người để từ đó giúp người đọc thêm tin yêu vào con người, vào cuộc sống.
( Với HS lớp 7, không yêu cầu lí giải, bàn luận sâu bằng kiến thức lí luận văn học).
Phân tích nhân vật “tôi” trong câu chuyện “Người ăn xin” để làm sáng tỏ nhận định.
* Khái quát bối cảnh, tình huống truyện:
- Cậu bé gặp người ăn xin trên đường nhưng thật éo le, cậu không có tiền bạc hay vật chất gì đáng giá để cho ông cụ.
- Trước tình huống đó, cậu bé chỉ biết nắm tay người ăn xin và nói những lời ấm áp yêu thương đề chia sẻ với nỗi bắt hạnh của ông cụ.
=> Câu chuyện ngắn gọn, nhà văn tạo dựng bối cảnh đơn giản nhưng lại giúp nhân vật thể hiện rõ tính cách, phẩm chất của mình.
* Phân tích nhân vật “tôi”:
Luận điểm 1: Nhân vật “tôi” trong câu chuyện là một cậu bé có tấm lòng đẹp, biết yêu thương, sẻ chia với những cảnh đời, con người bất hạnh trong cuộc sống.
- Trong một lần tình cờ, nhân vật tôi” đã gặp một người ăn xin đã già “đôi mắt ông đỏ đọc, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi”. Nhìn ông vô cùng đáng thương. Khi gặp cậu, ông cụ đã chìa tay xin, mong cậu tỏ lòng thương cảm và ban phát cho ông một chút gì đó để làm vơi đi nỗi bất hạnh.
- Những thật trớ trêu thay, cậu biết cho cụ cái gì đây, khỉ mà cậu không hề có tiền bạc hay bất cứ thứ gì có thể để biếu cụ.
- Ánh mắt của ông cụ vẫn dõi theo và chờ đợi khiến cậu nhói lòng.
- Đứng trước tình thể oái oăm đó, cậu chẳng biết làm thế nào, chỉ biết nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia. Và cuối cùng, cậu lấy hết can đảm nói với ông cụ: “Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả” Những cử chỉ, lời nói ấm áp yêu thương của cậu còn đáng giá hơn tiền bạc, vật chất đối với ông cụ. Chính hành động và lời nói ấm lòng của nhân vật tôi” với cụ đã khiến trái tìm người ăn xin trở nên ấm áp vô cùng. Bởi vậy, dù không nhận được ở cậu bé một món quà bằng vật chất (đối với người ăn xin điều đó vô cùng quan trọng) nhưng cụ vẫn nở nụ cười bởi cụ trân trọng tấm lòng nhân hậu của cậu.
Luận điểm 2: Nhân vật “tôi” mặc dù còn nhỏ nhưng đã biết cách đối xử vô cùng văn hóa, đúng mực, rất đáng trân trọng.
- Khi gặp tình thể khó xử, nhân vật tôi đã có cách giải quyết vô cùng, văn hóa, vừa trao đi yêu thương vừa giúp cho người đối diện cảm thấy được tôn trọng, ấm lòng, không có cảm giác bị xa lánh, coi thường. Tay cậu run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của người ăn xin khiến chúng ta vô cùng xúc động. Cái nắm tay tình cảm mang theo bao ân tình, sự cảm thông, sẻ chia của cậu bé dành cho ông cụ đó là cách mà cậu đang trao yêu thương, rất đáng trân trọng. Đây là cách cư xử rất khéo léo, ấm áp nghĩa tình.
- Những cử chỉ, hành động, lời nói rất thiện chí, chứa đựng tình cảm chân thành, đong đầy yêu thương của cậu bé đã khiến cho người ăn xin thấy được tôn trọng, được sẻ chia. Và ông cụ đã nhìn tôi chăm chăm. đôi môi nở nụ cười:Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi”. Nụ cười của cụ cũng làm cho cậu cảm thấy ấm áp và chính cậu cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó”. Phải chăng cả cái mà cả ông cụ và cậu bé đó nhận được đó chính là sự tôn trọng, là sự thấu hiểu, sẻ chia ấm áp tình người? Và chính điều đó còn có giá trị hơn những món quà vật chất.
* Đánh giá chung:
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Câu chuyện kể ở thứ nhất, nhân vật “tôi” là người trực tiếp tham gia các sự ng câu chuyện nên kể lại một cách chân thực, tạo độ tin cậy cao cho người đọc.
+ Tác giả làm nổi bật tính cách, phẩm chất nhân vật “tôi” qua ngôn ngữ, hành động.
+ Cách đặt nhan đề thú vị, gợi sự tò mò cho người đọc khám phá câu chuyện; nhan để thể hiện được chủ đề của văn bản.
- Hình tượng nhân vật.
+ Nhân vật tôi trong câu chuyện không có một đồng tiền nào cho người ăn xin nhưng có một thứ đáng giá hơn của cải, vật chất mà cậu đã trao cho ông cụ đó chính là tình thương, là sự thấu hiểu, sẻ chia đầy tình nhân ái. Tình yêu thương của cậu bé đành cho người ăn xin thật đáng trân trọng.
+ Nhân vật đã để lại cho chúng ta bài học cuộc sống vô cùng ý nghĩa về lẽ sống, về cách đối nhân xử thế đẹp.
- Ý kiến của nhà văn Nguyễn Minh Châu:
Ý kiến đã nói đúng chức năng của văn học và nhiệm vụ của nhà văn trong việc nhận thức và bồi đắp tâm hồn của con người. Đó cũng là bài học định hướng sâu sắc cho cả người nghệ sĩ và người tiếp nhận tác phẩm văn học.
+ Đối với người nghệ sĩ: cần nhận thức được thiên chức của người cầm bút (nhà văn) là phải đi tìm, khám phá những vẻ đẹp cao quý, ẩn sâu trong tâm hồn con người để từ đó giúp người đọc thêm tin yêu vào con người, vào cuộc sống.
+ Đối với người tiếp nhận: cảm nhận, khám phá tác phẩm bằng sự đồng điệu với người sáng tác để thấy được chiều sâu giá trị của tác phẩm, hướng tới bồi đắp tâm hồn mình thêm cao cả và phong phú hơn
* Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của câu chuyện.
- Rút ra bài học và liên hệ bản thân.
6.0đ
d. Sáng tạo: Bài viết có sự sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề; có cách diễn đạt tốt, mới mẻ.
1.0đ
e. Chính tả, ngữ pháp: Văn phong mạch lạc, lập luận tốt, chữ viết rõ ràng, đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
1.0đ
* Lưu ý: Trên đây là cách gợi ý chung, khi chấm bài giáo viên cần căn cứ vào từng bài làm cụ thể của học sinh để chấm điểm một cách linh hoạt.
..................................................HẾT.................................................
KỲ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
MÔN: NGỮ VĂN 7
NĂM HỌC 2023 - 2024
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Đề có 01 trang
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi
Bài học về việc đón nhận thành công luôn thật dễ hiểu và dễ thực hiện. Nhưng đối mặt với thất bại, nhất là thất bại đầu đời, lại là điều không hề dễ dàng. Với tất cả mọi người, thất bại - nhất là thất bại trong các mối quan hệ - thường vẫn tạo ra những tổn thương sâu sắc. Điều này càng trở nên nặng nề đối với các bạn trẻ. Nhưng bạn có biết rằng tất cả chúng ta đều có quyền được khóc? Vậy nên nếu bạn đang cảm thấy cô đơn, tuyệt vọng thì hãy cho phép mình được khóc. Hãy để những giọt nước mắt ấm nồng xoa dịu trái tim đang thổn thức của bạn. Và hãy tin rằng ở đâu đó, có một người nào đó vẫn đang sẵn lòng kề vai cho bạn tựa, muốn được ôm bạn vào lòng và lau khô những giọt nước mắt của bạn... Muốn nhìn thấy cầu vồng, ta phải đi qua cơn mưa... Vì thế, hãy tin ngày mai nắng sẽ lên, và cuộc đời lại sẽ ươm hồng những ước mơ của bạn, một khi bạn còn giữ trong lòng ánh sáng của niềm tin.
(Theo Hạt giống tâm hồn dành cho tuổi teen, Tập 2 -Nhiều tác giả,
NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2012, trang 02)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (1,0 điểm). Em hiểu gì về câu: “Đối mặt với thất bại, nhất là thất bại đầu đời, lại là điều không hề dễ dàng”?
Câu 3 (1,5 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu: “Muốn nhìn thấy cầu vồng, ta phải đi qua cơn mưa…”
Câu 4 (1,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích em hãy chia sẻ cách ứng xử của bản thân sau khi gặp thất bại.
II. VIẾT (16,0 điểm)
Câu 1 (6,0 điểm). Trong cuộc sống, có rất nhiều người đã truyền cho em những nguồn cảm hứng tích cực. Hãy viết bài văn biểu cảm về người ấy.
Câu 2 (10,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: “Mỗi người sinh ra đều có giá trị riêng. Bản thân người đó phải làm cho giá trị riêng của mình sáng lên và tôn trọng giá trị riêng của người khác”. Hãy trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
-------------Hết-------------
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
Năm học: 2023- 2024
Môn: Ngữ văn – Lớp 7
Phần
Nội dung cần đạt
Điểm
I
ĐỌC - HIỂU
4,0
1
Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên là nghị luận
0,5
2
HS có thể lí giải bằng nhiều cách. Sau đây là gợi ý:
Lần đầu tiên khi đối mặt với thất bại, con người ta thường chưa có nhiều kinh nghiệm và đôi khi còn mang những mơ mộng. Vì thế khi gặp phải thất bại, con người ta khó chấp nhận, thậm chí cảm thấy tổn thương.
1,0
3
- Biện pháp tu từ ẩn dụ: Cầu vồng (thành công), cơn mưa (khó khăn, thất bại)
-Tác dụng:
+ Làm cho câu văn giàu hình ảnh, tăng sự thuyết phục cho người đọc, người nghe.
+ Muốn có được thành công phải trải qua những thất bại, khó khăn, thử thách,….
0,5
1,0
4
HS chia sẻ các cách làm nhưng phải bám sát đoạn trích và phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Sau đây là một số gợi ý:
- Tìm hiểu nguyên nhân thất bại, rút kinh nghiệm cho bản thân.
- Phải đối diện với thất bại và thừa nhận nó.
- Có thái độ phù hợp: tích cực, không bi quan, không chùn bước.
- Từ thất bại rút ra bài học kinh nghiệm, học hỏi thêm để hoàn thiện bản thân
- Tiếp tục lập kế hoạch và hành động…
1,0
II
PHẦN VIẾT
16,0
Câu 1
Viết bài văn biểu cảm về người đã truyền cảm hứng cho em trong cuộc sống.
6,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn biểu cảm: Mở bài: giới thiệu đối tượng biểu cảm; thân bài: biểu cảm về đối tượng; kết bài: Khẳng định lại tình cảm, cảm xúc về đối tượng.
0,5
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: biểu cảm về người đã truyền cảm hứng cho em trong cuộc sống.
0,5
c. Triển khai vấn đề:
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác; đảm bảo các yêu cầu sau:
*Mở bài:
- Giới thiệu về đối tượng biểu cảm.
- Bày tỏ tình cảm, ấn tượng chung về người ấy.
*Thân bài:
Bày tỏ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ một cách cụ thể về đối tượng
- Cảm xúc về vẻ đẹp ngoại hình, xuất thân,…
- Cảm xúc về hành động, việc làm, tính cách, tình cảm…
- Giới thiệu một kỉ niệm sâu sắc hoặc một câu chuyện về người em biểu cảm.
*Kết bài:
- Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của em đối với người mà em biểu cảm.
- Lời tự hứa của bản thân
- Rút ra điều đáng nhớ, đáng học tập từ người ấy.
4,0
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
0,5
e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời văn giàu cảm xúc, sáng tạo.
0,5
Câu 2
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống
10,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.
0,5
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: nghị luận về một vấn đề (trình bày ý kiến tán thành): Mỗi người sinh ra đều có giá trị riêng. Bản thân người đó phải làm cho giá trị riêng của mình sáng lên và tôn trọng giá trị riêng của người khác.
0,5
c. Triển khai vấn đề:
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác; đảm bảo các yêu cầu sau:
a. Mở bài:
Giới thiệu về vấn đề cần bàn luận và bày tỏ ý kiến về đề nghị luận.
b. Thân bài:
- Trình bày thực chất của ý kiến: Xã hội phong phú, đa màu sắc, mỗi người đều có một giá trị riêng, không ai giống ai. Do đó, mỗi người cần phải biết hoàn thiện bản thân, phát huy giá trị của mình và sống có ý nghĩa. Bên cạnh đó cần phải biết tôn trọng giá trị của người khác để cuộc sống thêm phần tốt đẹp hơn.
- Bày tỏ quan điểm, ý kiến về vấn đề
+ Thế giới chúng ta muôn màu muôn sắc, mỗi người đều có một giá trị riêng (lí lẽ, dẫn chứng)
+ Mỗi người tự làm sáng lên giá trị riêng của mình thì cuộc
sống mới có ý nghĩa (lí lẽ, dẫn chứng)
+ Chúng ta cần tôn trọng giá trị riêng của người khác bởi nó mang lại nhiều ý nghĩa to lớn trong cuộc sống (lí lẽ, dẫn chứng)
+….
c. Kết bài:
- Khẳng định lại quan điểm cá nhân về vấn đề
- Bài học, thông điệp rút ra từ vấn đề.
8,0
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
0,5
e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lập luận rõ ràng, chặt chẽ; dẫn chứng thuyết phục.
0,5
Tổng
20,0
* Lưu ý: Trên đây là những gợi ý có tính chất định hướng, tổ chấm thảo luận và thống nhất cách đánh giá, cho điểm phù hợp với thực tế bài làm của học sinh. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo, thể hiện rõ năng khiếu.
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ....
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 7, 8 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2023 - 2024
ĐỀ CHÍNH THỨC
Mã đề số 02
MÔN THI: NGỮ VĂN 7
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
(Đề thi gồm có 01 trang)
Câu 1 (2,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
“… Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa mưa đêm
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.
…
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.”
(Trích Quê hương - Đỗ Trung Quân)
a. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.
b. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ sau:
“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi.”
c. (0,5 điểm) Đoạn thơ gửi tới người đọc thông điệp gì?
Câu 2 (6,0 điểm)
Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau: “Hãy mỉm cười đối diện với khó khăn”.
Câu 3 (12,0 điểm)
Nhận định về thơ, có ý kiến cho rằng: “Thơ ca là tiếng nói của trái tim người nghệ sĩ.”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một tác phẩm thơ mà em đã học (hoặc đã đọc).
..............Hết..............
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ....
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 7, 8
CÂP HUYỆN, NĂM HỌC 2023 – 2024
MÔN THI: NGỮ VĂN 7
Câu
Phần
Yêu cầu
Điểm
1
a
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
0.5
b
- Biện pháp tu từ so sánh: “Quê hương”- “Như là chỉ một mẹ thôi.”
- Tác dụng: Làm cho hình ảnh quê hương vốn trừu tượng, trở nên cụ thể, gần gũi. Quê hương như người mẹ hiền ôm ta vào lòng và dành cho ta những gì tốt đẹp nhất. Đó là nơi ấp ủ tình yêu thương, nuôi ta khôn lớn, dạy dỗ che chở, là điều quý giá vô ngần mà mỗi người không thể thiếu. Mỗi người chỉ có một quê hương, cũng như chỉ có một người mẹ mà thôi.
(Giám khảo tùy theo phần trình bày của HS để cho điểm phù hợp)
0.25
0.75
c
- Thông điệp: Quê hương là điểm tựa tinh thần của mỗi con người trong cuộc sống, nếu thiếu đi điểm tựa này thì con người sẽ trở nên chông chênh, lạc lõng.
(Giám khảo tùy theo phần trình bày của HS để cho điểm phù hợp)
0.5
2
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Đảm bảo đoạn văn nghị luận hoàn chỉnh khoảng 200 chữ.
- Hành văn mạch lạc, trong sáng, tránh mắc các lỗi: chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận xã hội
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
- Triển khai hợp lý nội dung đoạn văn: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
0.5
* Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các nội dung sau:
1. Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu ý kiến: “Hãy mỉm cười đối diện với khó khăn” và nêu nhận định chung.
2. Thân đoạn:
- Giải thích: “Mỉm cười đối diện với khó khăn” có thể được hiểu là khi đứng trước khó khăn, đừng lo lắng, sợ hãi, nản chí. Đó là chính là tinh thần lạc quan nghĩa là luôn vui vẻ, tin tưởng vào khả năng của bản thân, luôn hướng về tương lai.
- Bàn luận: Khó khăn thất bại là những điều mà bất cứ ai cũng sẽ phải gặp trong cuộc sống. Khi đứng trước thất bại con người thường có hai cách ứng xử: Sụp đổ, tuyệt vọng, gục ngã và không bao giờ lấy lại được động lực để chiến đấu nữa. Mỉm cười mạnh mẽ đứng lên sau vấp ngã và tiếp tục chiến đấu để chinh phục những khó khăn thử thách khác.
(Dẫn chứng: Học sinh lấy dẫn chứng minh họa phù hợp)
- Mở rộng vấn đề: Phê phán những người không lạc quan, không có ý chí, tinh thần vượt khó, sống yếu đuối… hoặc có những hành động, việc làm thể hiện sự bi quan.
- Bài học nhận thức và hành động: Mỉm cười khi đứng trước khó khăn chính là thái độ sống cần có của mỗi cá nhân bởi: Trong cuộc đời này chúng ta chắc chắn sẽ phải trải qua vô vàn khó khăn thất bại. Nó như là một phần tất yếu của cuộc sống Từ trong khó khăn, hãy tìm giải pháp đừng đổ lỗi, đừng ngồi im chịu chết. Nếu có thất bại cũng đừng sợ hãi hãy mạnh mẽ đứng lên, rút kinh nghiệm và tiếp tục chiến đấu. Chính từ những khó khăn đó mà ý chí bản lĩnh của ta được tôi rèn khiến ta ngày càng trưởng thành hơn thành công cũng sẽ đến với ta dễ dàng hơn
3. Kết đoạn: Khẳng định vấn đề, liên hệ.
5.0
0.5
0.5
1.5
0.5
1.5
0.5
- Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong cách diễn đạt.
0.25
- Chính tả: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.
0.25
3
* Yêu cầu chung:
+ Về kĩ năng:
- Biết cách viết một bài văn nghị luận văn học, bố cục ba phần.
- Thể hiện năng lực cảm thụ văn học.
- Lập luận chặt chẽ, có cảm xúc, hành văn lưu loát, không mắc các lỗi chính tả, diễn đạt.
- Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong cách diễn đạt.
0.5
+ Về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày bài viết theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận.
- Giới thiệu tác phẩm sẽ lựa chọn để làm sáng tỏ cho vấn đề.
2. Thân bài:
* Giải thích và bình luận:
+ Giải thích:
- Thơ ca là hình thức sáng tác nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu để diễn tả những xúc cảm trào dâng nơi tâm hồn nhà thơ.
- Tiếng nói của trái tim người nghệ sĩ chính là những rung động mãnh liệt trong tâm hồn người nghệ sĩ được bật ra và kết tinh lại bằng ngôn từ.
=> Thơ ca được tạo ra từ thực tiễn cuộc sống và cảm xúc, tình cảm của nhà thơ. Cũng thông qua thơ, người nghệ sĩ gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình.
+ Bình luận: Ý kiến trên hoàn toàn chính xác. Vì thơ là tiếng nói của cái tôi với những rung động, cảm xúc, thái độ, đồng thời cũng là nguyện ước, mong muốn, khát khao của tác giả trước cuộc đời. Và có rất nhiều hình thức nghệ thuật để thể hiện những rung động, cảm xúc, thái độ, đồng thời cũng là nguyện ước, mong muốn, khát khao đó. Song thơ vẫn là hình thức nghệ thuật biểu đạt phù hợp nhất.
* Chứng minh qua một tác phẩm thơ.
- HS có thể phân tích theo những cách khác nhau, song cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
a. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, phân tích được “tiếng nói của trái tim” được phản ánh trong tác phẩm.
b. Chứng minh thơ ca là “tiếng nói của trái tim” người nghệ sĩ qua nội dung của tác phẩm. (HS bám vào nội dung bài thơ để phân tích chứng minh. Lưu ý phải gắn chặt với phần lí luận)
c. “Tiếng nói của trái tim” người nghệ sĩ được thể hiện thông qua những hình thức nghệ thuật trong tác phẩm.
* Đánh giá, mở rộng:
+ Đánh giá nhận định
+ Bài học nhận thức đối với quá trình sáng tác và quá trình tiếp nhận:
- Với người nghệ sĩ: Những bài hay góp phần làm phong phú thêm cho thơ ca nhân loại. Vì vậy, bằng tài năng, tâm huyết của mình nhà thơ hãy sang tạo nên những thi phẩm hay và giàu sức hấp dẫn. Điều đó vừa là thiên chức, vừa là trách nhiệm của nhà thơ vừa là yêu cầu thiết yếu, sống còn của sang tạo nghệ thuật.
- Với người tiếp nhận: Tác phẩm nghệ thuật khơi gợi ở người đọc những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp. Người đọc thấu hiểu được tiếng nói trong trái tim người nghệ sĩ, từ đó trân trọng và hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại tính đúng đắn của nhận định lí luận văn học.
- Liên hệ bản thân
0.5
1.0
0.5
7.0
1.5
0.5
* Sáng tạo: Bài viết cần có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo, thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và xã hội.
0.5
Tổng điểm
20.0
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỘI THI HỌC SINH GIỎI CẤP THỊ XÃ
THỊ XÃ QUẢNG YÊN
NĂM HỌC 2023-2024
Môn thi: NGỮ VĂN 7
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Ngày thi: 18/3/2024
Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian giao đề
(Đề thi này có 02 trang)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương.
Không có gì tự đến, dẫu bình thường
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực.
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ.
(Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn)
Câu 1 (3,0 điểm) Chọn phương án trả lời đúng nhất:
1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
A.Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Miêu tả
2. Nội dung của đoạn thơ?
A. Cha mẹ đã dạy con: nếu muốn thành công thì con phải trải qua nhiều gian khổ và phải tự biết hoàn thiện, rèn luyện bản thân hằng ngày.
B. Cha mẹ mong con: Phải sống nghị lực, không được khuất phục trước khó khăn.
C. Cha mẹ dạy con: phải làm việc chăm chỉ, dựa trên sức lực chính bản thân để thành công.
D. Cha mẹ mong muốn con nên người, sống thật tốt.
3. Trong câu thơ “Mùa bội thu trải một nắng hai sương”. Thành ngữ “Một nắng hai sương” có ý nghĩa gì?
A. Muốn mùa bội thu phải trải qua những nhọc nhằn, vất vả.
B. Niềm hạnh phúc của người nông dân khi mùa màng tươi tốt.
C. Sự lao động vất vả, dãi nắng dầm sương của người làm nghề nông.
D. Sự đúc kết kinh nghiệm về thời tiết của người nông dân.
4. Hình ảnh “Đôi tay và nghị lực” tượng trưng cho điều gì?
A. Ý chí khắc phục mọi khó khăn của con người.
B. Sức mạnh, ý chí quyết tâm của con người.
C. Sức mạnh vô biên của con người.
D. Sức khỏe và tinh thần của con người.
5. Cha mẹ muốn khuyên con điều gì ba dòng thơ sau:
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương.
A. Muốn có được trái ngọt, hoa thơm, mùa màng bội thu phải trải qua những tháng ngày vất vả, cực nhọc chăm sóc, vun trồng..
B. Luôn phải kiên trì, mạnh mẽ, không được khuất phục trước khó khăn, thử thách, dựa trên sức lực chính bản thân để thành công .
C. Trải qua thời gian con người sẽ trưởng thành.
D. Sự cần mẫn kiên trì, quyết tâm vượt khó sẽ mang lại những thành quả ngọt ngào.
onthicaptoc.com 50 De thi HSG Ngu van 7 cap huyen 23 24
PHẦN ĐỌC HIỂU
PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
ÔN TẬP
TIẾNG NÓI VẠN VẬT
VĂN BẢN 1: LỜI CỦA CÂY
(Trần Hữu Thung)
Môn: Ngữ văn 7 - Năm học: 2023– 2024
(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề)
ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Ôn tập cơ bản và nâng cao về đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại toàn bộ các thể loại HS được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 gồm:
ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: