onthicaptoc.com
ĐỀ 1
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I
NĂM HỌC 2023 –2024
Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)
I. Phần Đọc (6,0 điểm)
Đọc văn bản và thực hiện những yêu cầu sau
Nữ thần nghề mộc
Sau khi đã sáng tạo ra loài người, lại thấy loài người phải sống chui rúc trong các hang đá tối tăm lạnh lẽo. Ngọc Hoàng thương tình bèn sai một vị thần bày cho loài người cách làm nhà cửa và các vật dụng sinh hoạt. Vị thần này xuống trần dưới dạng một người đàn bà đã già với mái tóc trắng như cước và vẻ mặt bí hiểm. Bà già sống lẩn lộn trong dân gian, cùng làm cùng ăn với mọi người và ngày càng có uy tín với nhân dân. Bấy giờ loài người chỉ mới biết đẵn gỗ hoặc tre nứa làm chỗ tránh mưa, tránh nắng tạm thời. Bà già đã tìm cách hướng dẫn loài người làm cưa, để cưa gỗ cho nhanh chóng hơn. Nhưng cách truyền nghề của bà cụ độc đáo. Không bao giờ bà nói thẳng cách thức làm mà chỉ hướng dẫn một cách gián tiếp. Chẳng hạn, bà đưa mọi người ra bờ suối, bên  những bụi dứa dại đầy gai. Bà bứt lấy một chiếc lá và cứa vào chân của từng người. Ai tinh ý thì nghĩ ra cách làm chiếc cưa, tương tự như chiếc lá dứa.
Trong số những người đi theo bà, có hai anh em nhà nọ tên là Lỗ Ban, Lỗ Bốc tinh ý hơn cả. Họ suy nghĩ cách hướng dẫn của bà và rèn được một lưỡi cưa. Có lưỡi cưa, mọi người xẻ gỗ nhanh hơn. Từ đó anh em Lỗ Ban trở thành những người thầy đầu tiên của nghề mộc.
Nữ thần còn dạy cho mọi người cách làm nhà, làm thuyền bằng gỗ. Cách làm nhà được bà hướng dẫn như sau: bà đứng thẳng trước mọi người, hai tay chống vào hai bên hông, để từ đó Lỗ Ban, Lỗ Bốc suy diễn. Lỗ Ban cho rằng nữ thần dạy làm kiểu nhà có một cột chính ở giữa, giao múi với hai đầu kèo, còn Lỗ Bốc thì lại cho rằng có thể làm kiểu hai cột đâm lên vào khoảng giữa hai kèo, v.v... Hai anh em tranh luận và mỗi người làm một kiểu, kiểu nhà nào trông cũng chắc chắn, vững chãi. Dân chung quanh từ hai kiểu nhổ nào biến chế được rất nhiều kiểu khác nữa.
Nữ thần lại còn dạy cho dân cách làm thuyền để đi trên mặt nước. Bà nằm ngửa, hơi co người, để cho tay và chân gấp lại. Anh em Lỗ Ban, Lỗ Bốc bắt chước kiểu đó nghĩ ngay với việc lấy một khúc gỗ, đục rỗng lòng và đặt những mái chèo ngắn ở hai đầu.
Sau này họ còn tìm cách trang trí những hình chạm trổ chim, hoa, cá... vào những công trình bằng lỗ của mình cho thêm đẹp. Nghề làm mộc phát triển từ đấy nhưng nguồn gốc ban sơ chính là nhờ nữ thần nghề mộc truyền cho từ thuở xưa.   
(Nguồn: https://lazi.vn/truyen/d/3416/nu-than-nghe-moc)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1: Xác định thể loại của văn bản trên:
A. Cổ tích
B. Truyền thuyết
C. Thần thoại
D. Sử thi
Câu 2: Nhân vật chính của văn bản là:
A. Ngọc Hoàng
B. Nữ Thần nghề mộc
C. Lỗ Ban
D. Lỗ Bốc
Câu 3: Theo đoạn trích, nhân vật Nữ Thần nghề mộc xuất hiện vào thời gian nào?
A. Trước khi sáng tạo ra loài người
B. Trong khi sáng tạo ra loài người,
C. Khi sáng tạo ra loài người, loài vật
D. Sau khi đã sáng tạo ra loài người
Câu 4: Phương án nào sau đây đúng và đủ các sự kiện chính trong đoạn trích Nữ thần nghề mộc?
A. Nữ thần xuống trần, sinh sống với con người.
B. Nữ thần xuống trần, chung sống với con người, dạy họ làm cưa, làm thuyền, làm nhà…giúp nghề mộc phát triển
C. Nữ thần xuống trần, dạy họ làm cưa
D. Nữ thần xuống trần, dạy họ làm nhà
Câu 5: Dòng nào dưới đây không đúng với đoạn trích Nữ thần nghề mộc?
A. Mang yếu tố hoang đường kỳ ảo
B. Kết thúc truyện có hậu
C. Nhân vật có khả năng phi thường
D. Truyện được kể theo lời nhân vật
Câu 6: Cách Nữ thần dạy con người làm thuyền với chi tiết “Bà nằm ngửa, hơi co người, để cho tay và chân gấp lại”cho thấy ?
A. Nữ thần là người khỏe mạnh
B. Nữ thần là người hài hước
C. Nữ thần là người trí tuệ
D. Nữ thần là người vụng về
Câu 7: Đoạn trích Nữ thần nghề mộc thể hiện nội dung nào dưới đây?
A. Giải thích sự ra đời nghề mộc và lòng biết ơn đối với Nữ thần nghề mộc.
B. Tôn vinh người anh hùng
C. Sự hình thành loài người.
D. Biết ơn Ngọc Hoàng và Lỗ Ban, Lỗ Bốc.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 8: Hãy nêu 02 nét đặc trưng thể loại của văn bản trên? (Gợi ý: Không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật, chủ đề…) (0,5 điểm)
Câu 9: Văn bản đã giải thích sự ra đời nghề mộc, theo anh/chị sự giải thích đó có còn phù hợp với con người hiện đại không? (1,0 điểm)
Câu 10: Qua câu chuyện, người xưa muốn gửi gắm thông điệp gì? (1,0 điểm)
II. Phần Viết (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sức mạnh niềm tin của giới trẻ hiện nay.
-Hết-
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
Môn: Ngữ văn lớp 10
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC
6,0
1
C
0,5
2
B
0,5
3
D
0,5
4
B
0,5
5
D
0,5
6
C
0,5
7
A
0,5
8
02 nét đặc trưng của thể loại truyện Nữ Thần nghề mộc:
- Thời gian: cổ sơ, mang tính vĩnh hằng “Sau khi đã sáng tạo ra loài người, lại thấy loài người phải sống chui rúc trong các hang đá tối tăm lạnh lẽo”
- Nhân vật: Thần nghề Mộc, Ngọc Hoàng…
0,5
9
Cách giải thích của dân gian về nguồn gốc nghề mộc mang đậm tính tưởng tượng, trực quan; chứa đựng khát vọng tìm hiểu, lý giải sự ra đời của nghề mộc. Cách lí giải ấy phù hợp với thời kì khoảng 2000-1100 trước Công nguyên, không phù hợp với xã hội ngày nay, khi khoa học kĩ thuật, tư duy của con người đã phát triển mạnh mẽ.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời tương đương như đáp án: 1,0 điểm
- Học sinh trả lời đúng một ý: 0,5 điểm
- Học sinh trả lời có nội dung phù hợp nhưng diễn đạt chưa tốt: 0,25 điểm
- Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm
*Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được.
1,0
10
Thông điệp qua văn bản:
- Giải thích nguồn gốc của nghề mộc theo quan niệm của tác giả dân gian
- Các vị thần linh đã có công tạo ra nghề mộc. Chính vì vậy, mọi người hãy biết ơn, bảo vệ, giữ gìn để nó xứng đáng với công lao của các vị thần linh.
Hướng dẫn chấm:
-Học sinh trả lời tương đương với một ý đã gợi trong đáp án: 1,0 điểm
- Học sinh trả lời có nội dung phù hợp nhưng diễn đạt chưa tốt: 0,25 - 0,75 điểm
- Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm
*Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được.
1,0
II
VIẾT
4,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề nghị luận, thân bài triển khai được vấn đề nghị luận, kết bài khái quát được vấn đề nghị
0,25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sức mạnh niềm tin của giới trẻ hiện nay.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,25 điểm.
- Học sinh xác định chưa đúng vấn đề cần nghị luận: 0,0 điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý cần hướng tới:
- Văn bản nói đến những thử thách của tuổi trẻ và khuyên tuổi trẻ cần có niềm tin trong cuộc sống.
- Giải thích: niềm tin là thứ bạn cảm nhận, tin tưởng vào một điều gì đó và mong muốn nó sẽ xảy ra theo cách mà bạn suy nghĩ.
- Phân tích, đánh giá, bàn bạc: Đứng trước những khó khăn, thử thách trong cuộc đời, chúng ta thường nản lòng, chùn bước. Niềm tin có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người.
+ Niềm tin sẽ giúp ta mạnh mẽ, bản lĩnh để vượt qua tất cả.
+ Niềm tin là động lực giúp bạn hoàn thành những mong muốn, dự định và đạt được mục tiêu của mình. Nó có thể định hướng và quyết định những hành động đúng đắn của bạn.
+ Niềm tin tạo ra năng lượng tích cực giúp bạn xóa bỏ những rào cản, tăng lòng nhiệt huyết, phát huy những năng lực và hành động khác của bản thân.
- Phê phán những người sống thiếu niềm tin: thường cảm giác bất an lo lắng, thiếu năng lượng, thiếu nỗ lực khiến bản thân buông xuôi.
- Bài học: Không có niềm tin thì cuộc sống sẽ vô nghĩa. Vì vậy, cần có niềm tin và hy vọng bạn sẽ thành công và hạnh phúc. Trước khi tin vào điều gì đó thì hãy tin vào chính bạn.
Hướng dẫn chấm:
- Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 2,5 điểm.
- Phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 1,0 điểm – 1,75 điểm.
- Phân tích chung chung, sơ sài: 0,25 điểm – 0,75 điểm.
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
0,25
2,5
0,5
0,5
onthicaptoc.com
ĐỀ 2
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I
NĂM HỌC 2023 –2024
Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TƯƠNG TƯ
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
(Tương tư, Nguyễn Bính)
Lựa chọn đáp án đúng:
1. Bài thơ “Tương tư” được viết theo thể thơ nào?
A. Lục bát.
B. Song thất lục bát.
C. Tự do
D. Thất ngôn bát cú
2. Xác định biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Hoán dụ
D. Nhân hóa
3. Hai câu nào trong bài thơ cho thấy tình cảm của chàng trai chưa được đền đáp?
A. Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, / Một người chín nhớ mười mong một người.
B. Hai thôn chung lại một làng, / Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
C. Bảo rằng cách trở đò giang, / Không sang là chẳng đường sang đã đành.
D. Bao giờ bến mới gặp đò, / Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
4. Cặp đôi nào dưới đây không có trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính?
A. Bên ấy - bên này
B. Trong bến - ngoài làng
C. Giàn giầu - hàng cau
D. Một người - một người
5. Nguyễn Bính được coi là nhà thơ của:
A. cảnh quê.
B. đời quê.
C. hồn quê.
D. nếp quê.
6. Cách ngắt nhịp đạt hiệu quả cao nhất trong câu thơ đầu là:
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
A. 2/2/2
B. 2/4
C. 4/2
D. 3/3
7. Cảm xúc chính của hai câu thơ sau là gì?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
A. Nhớ nhung, đợi chờ.
B. Nhớ nhung, hờn trách.
C. Nhớ nhung, than thở.
D. Nhớ nhung, tiếc nuối
Trả lời các câu hỏi:
8. Phân tích hiệu quả sử dụng biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
9. Nhận xét tâm trạng của chàng trai qua hai câu thơ cuối:
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
10. Từ nội dung bài thơ trên, anh (chị) hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu tuổi học đường?
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết một bài văn phân tích nội dung và nghệ thuật của bốn câu thơ cuối trong bài thơ Tương tư của nhà thơ Nguyễn Bính.
4. Đáp án:
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÔN NGỮ VĂN, LỚP 10
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
6.0
1
A
0.5
2
C
0.5
3
B
0.5
4
B
0.5
5
C
0.5
6
D
0.5
7
A
0.5
8
- Giúp câu thơ sinh động, giàu hình ảnh, gợi hình, gợi cảm
- Cảm nhận rõ hơn nỗi nhớ của nhân vật trữ tình kín đáo, ý nhị mà da diết, mãnh liệt
Hướng dẫn chấm:
+ Học sinh nêu được cả 2 ý trên: 0,5 điểm
+ Học sinh nêu được 1 trong 2 ý: 0,25 điểm.
0.5
9
- Nhận xét tâm trạng của chàng trai:
+ Sự trách móc, hờn dỗi của chàng trai.
+ Nhận xét tâm trạng của chàng trai: chàng trai khao khát hạnh phúc, mong đón nhận được tình cảm của cô gái.
Hướng dẫn chấm:
+ Học sinh nêu được cả 2 ý trên: 1,0 điểm
+ Học sinh nêu được 1 trong 2 ý: 0,5 điểm.
1.0
10
- Suy nghĩ về tình yêu tuổi học trò:
+ Tích cực: là tình cảm đẹp, trong sáng; giải tỏa những mệt mỏi trong học tập, cùng nhau hỗ trợ vươn lên,…
+ Tiêu cực: lứa tuổi học trò chưa đủ chín chắn và trưởng thành để xác định một mối quan hệ bền vững; nếu chỉ tập trung vào tình yêu thì dễ đi sai đường, lạc lối,…
Hướng dẫn chấm:
+ Học sinh nêu được cả 2 ý trên: 1,0 điểm
+ Học sinh nêu được 1 trong 2 ý: 1,0 điểm.
+ Học sinh chỉ nêu chung chung hoặc chạm đến phần nào nội dung của 1 trong 2 ý trên: 0,5 điểm.
1.0
II
VIẾT
4.0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề
0.5
b. Xác định đúng yêu cầu của đề.
Nội dung và nghệ thuật của bốn câu thơ cuối bài thơ.
Hướng dẫn chấm:
+ Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
+ Xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.
0.5
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể viết bài nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm; đảm bảo các yêu cầu sau:
2.0
- Giới thiệu bài thơ, đoạn thơ (tên tác phẩm, thể loại, tác giả,…). Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá.
- Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ:
+ Về nội dung: bốn câu thơ thể hiện nỗi nhớ và khát vọng lứa đôi thầm kín của chàng trai đối với cô gái.
+ Về nghệ thuật: đoạn thơ thể hiện những nét đặc trưng trong phong cách thơ của Nguyễn Bính: thể thơ lục bát; hình ảnh thơ thấm đẫm hương vị làng quê, ngôn từ giản dị, mộc mạc; giọng thơ ngọt ngào, êm dịu như những khúc hát dân ca,…
- Khẳng định giá trị của bốn câu thơ
Hướng dẫn chấm:
- Trình bày đầy đủ, sâu sắc: 2,0 điểm
- Trình bày chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 1,75 điểm - 1,0 điểm.
- Trình bày chung chung, chưa rõ: 0,25 điểm – 0,75 điểm
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
0.5
e. Sáng tạo: vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích, đánh giá; biết so sánh với các tác phẩm khác để làm nổi bật nét đặc sắc; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống; văn viết giàu hình ảnh, cảm xúc.
Hướng dẫn chấm
+ Đáp ứng được 3 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm.
+ Đáp ứng được 2 yêu cầu: 0,25 điểm.
0.5
Tổng điểm
10.0
onthicaptoc.com
ĐỀ 3
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I
NĂM HỌC 2023 –2024
Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)
Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau :
Xing Nhã trả thù
Tóm tắt tác phẩm: Vợ chồng Gia- rơ-kốt và Hơ- bia Đá sinh được một con trai, đặt tên là Xing Nhã. Ngày lễ “thổi tai” (lễ cầu mong cho con khôn lớn) cho con, vợ chồng Gia- rơ-kốt mời vợ chồng bạn thân là Gia- rơ- Bú tới dự nhưng Gia-rơ- Bú từ chối chỉ cho vợ là Hơ- bia- Guê đến. Ghen ghét với cuộc sống giàu có, hạnh phúc của nhà Gia- rơ- kốt, lại nghe vợ xúc xiểm, Gia- rơ- Bú kéo nô lệ đến đánh phá buôn làng, cướp đoạt của cải và giết hại Gia- rơ- kốt, bắt Hơ- bia- Đá về làm nô lệ. Xing Nhã được ông Gỗn (một trong những thần ở trên trời thường làm những điều tốt lành) cứu thoát và giao cho vợ chồng Xing Yu ê và Bang Ra nuôi dưỡng
Đoạn trích dưới đây kể về Xing Nhã sau khi được Bơ-ra Tang (người yêu của Xing Nhã) tiết lộ sự thật về cái chết của cha, đã quyết tâm tìm tới buôn làng của Gia-rơ Bú, chiến đấu với anh em Gia-rơ Bú để “đòi xương cho cha, trả thù cho mẹ”
[…]
Đêm hôm ấy, Xing Nhã trằn trọc mãi, ngồi không được, ngủ không nổi, đứng cũng không yên. Ngoài bờ suối, con chim pu-pút điểm canh từng hồi dài. Xing Nhã ra ngoài hè, bước lên lại bước xuống cầu thang. Lòng thương mẹ nhớ cha đã giục Xing Nhã đến nhà Bơ-ra Tang giữa đêm khuya khoắt. Nghe tiếng bước chân làm rung rinh sàn nhà, Bơ-ra Tang thức dậy chưa ra nhìn mặt, hỏi:
Bơ- ra Tang: - Ơ anh! Anh muốn hút thuốc tại sao không tới từ lúc chiều, muốn ăn trầu, tại sao không đi từ lúc sớm? Nửa đêm rồi, anh tới hỏi em có việc gì? Nếu anh muốn ăn cơm kê trên gác bếp, ăn cơm nếp trong nồi, bầy trai gái nhà em đã lo xong từ tối.
Xing Nhã- Anh ăn cơm rồi. Anh muốn em hãy cho anh xin một con thoi chỉ dài đem về sửa soạn chiếc khiên của anh.
Bơ- ra Tang vào buồng lấy cho Xing Nhã một thoi chỉ trắng. Xing Nhã trở về. Trời vừa sáng. Con chim pu- pút đã ngừng kêu. Gặp cha, Xing Nhã hỏi:
Xing Nhã- Ơ cha! Cha hãy gọi cho con một trăm người khoẻ, một nghìn người mạnh, đi tìm cây to làm khiên cho con.
Cả đoàn người lũ lượt kéo tới ruộng lầy có chuối mọc, đến thác Đang hoa nở, từ bờ sông lớn, gốc cây xoài ngả nghiêng. Họ kéo tới vùng bà Hơ- bút, bà Hơ- tang đang dệt vải, nhìn thấy mái nhà mẹ Đung, mẹ Đai, thấy cây kơ- pa cao, cây kơ-lơng lớn đến nỗi phải đi vòng một năm mới giáp gốc, năm tháng mới mút cành, lá dài hơn một dặm cánh chim bay.
Xing Nhã cho dân làng đốn miết, đốn mãi, đốn từ mùa này sang mùa khác mà cây không ngã, gốc không nghiêng. Xing Nhã gọi cha là Xing Yuê đốn thử. Cây vẫn đứng trơ trơ. Cuối cùng Xing Nhã mời bạn Tông Á và Tông Yu ê đốn một bên, Xing Nhã đốn một bên. Những nhát rìu của Xing Nhã toé lửa, bắn những mảnh cây kơ-lơng tung bay tứ phía, bay tới nhà Gia-rơ Bú, trúng trai gái ở bến nước, trúng bà già đi hái củi, trúng nhà Gia- rơ Bú gãy xà ngang, tan xà dọc…
Những mảnh gỗ của Xing Nhã bay đi, làm cho con tê giác không dám ở trong bãi, con voi không dám ở trong rừng, trâu bò chạy lung tung trên bãi cỏ.
Những mảnh gỗ của Xinh Nhã bắn lần thứ hai làm đứt cả canh chỉ của nàng Hơ bia- Bơ-lao đang dệt.
Mấy ngày sau, cây kơ- lơng mới đổ. Xing Nhã tiếp tục chặt cành. Một tháng, hai tháng, ba tháng, Xing Nhã mới làm xong chiếc khiên. Hàng trăm, hàng nghìn dân làng nhấc khiên không nổi. Xing Nhã bước tới, một tay nâng khiên, một tay giơ lên đầu, đội về buôn. Về tới nhà, ở một ngày, nghỉ một tháng. Xing Nhã suy tính chuyện đi đòi xương cho cha, trả thù cho mẹ.
Buổi sáng, Xing Nhã ngồi nắn lại vành khiên của cha. Phía dưới khiên đổ đồng, phía trên đổ chì, vành khiên nạm bạc sáng chói. Khiên làm xong. Xing Nhã múa thử. Chiếc khiên múa xoay phía dưới chết con cọp, xoay phía trên chết con voi, khiên xoay theo đường cái, đất bụi dấy mù mịt, trời nổi giông to, gió lớn.
Bang Ra và Xing Yu ê- Ta hãy lấy bảy ché rượu ngon, bảy con trâu đực trắng cúng cho trời, cho đất phù hộ con trai ta khoẻ mạnh. Ta hãy lấy con gà cúng thần Nước, ta lấy con lợn cúng Y Rít (vị thần cai quản khoảng giữa trời và đất) phù hộ con trai ta khôn lớn, đừng đi chết bỏ xương nơi đất khác.
(Sau khi cúng xong, cha mẹ nuôi của Xing Nhã lấy dây, nhờ Tông Á và Tông Yu ê trói Xing Nhã lại. Trói lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Xing Nhã cựa mình, dây đứt. Lần thứ tư, Bang Ra trói Xinh Nhã bằng sợi dây sắt cũng đứt nốt. Bang Ra lấy dây xích của Xing Nhã dùng để đánh quay trói chặt lại. Xing Nhã cố vùng vẫy. Lát sau hồn của Xing Nhã bị Giàng Trời bắt. Xing Nhã chết. Linh hồn Xing Nhã bay tới nhà ông Gỗn, được ông Gỗn cho uống thuốc tỉnh lại. Xing Nhã trở về từ giã cha mẹ nuôi, đi tìm kẻ thù. Vượt qua muôn trùng trở ngại, Xing Nhã tới được nhà kẻ thù. Đoạn dưới đây miêu tả cuộc chiến đấu cuối cùng của Xing Nhã với anh em Gia- rơ Bú).
[…] Hai bên lại đánh nhau. Năm em trai của Gia- rơ Bú đã bỏ đầu tại gốc cây đa, bỏ thân tại núi lạ. Gia- rơ Bú bứt rứt, ngồi không yên, nằm không được, tay trái lấy chiếc khiên, tay phải nắm cán đao, Gia- rơ Bú đi vào phía rẫy của Hơ- bia Bơ -lao.
Xing Nhã- (gặp Gia- rơ Bứ) Ơ Gia- rơ Bú, ai chạy trước?
Gia -rơ Bú- Hỡi con chim linh mọc chưa đủ lông cánh, hãy múa thử đi!
Xing Nhã quay khiên múa. Đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng Bảy. Xing Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều, chim ó.
Gia- rơ Bú nhìn theo, tối mày tối mặt, không đoán được đường đao của Xing Nhã chĩa về hướng nào.
Gia- rơ Bú- Được, bây giờ ta không giết được mày thì ta sẽ tìm cách phá sạch làng mày. Té ra đứa nào cũng là đầu đen máu đỏ cả sao?
Xing Nhã- (ngừng múa) Ơ Gia- rơ Bú! Ta đang đứng ở phía Mặt Trời mọc đây rồi. Bây giờ thì ngươi múa đi, ta đuổi theo.
Gia- rơ Bú múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc nước, như sao lạc đường. Đường đao chỉ đâm vào giữa trống không.
Xing Nhã mới đi một bước, đã chém trúng ngay chân Gia- rơ Bú.
Xing Nhã- Ơ Gia- rơ Bú, máu gì chảy ở chân đấy?
Gia-rơ Bú- Máu con vắt ở núi Hơ- mũ cắn tao.
Gia- rơ Bú múa tiếp, Xing Nhã chém luôn cánh tay phải, chiếc đao rơi “rỏn rẻn”…
Xing Nhã- Tại sao khiên của ngươi rơi mất rồi?
Gia-rơ Bú- Không phải! Đó là tiếng kêu của chiếc lục lạc trẻ con chơi, tiếng vù của con diều đói gió đấy!
Gia- rơ Bú cố sức múa nữa, nhưng lần này chưa kịp trở tay thì chiếc khiên đã bị Xing Nhã đánh vỡ tung, rơi xuống đất.
Cuối cùng chỉ còn Pơ- rong Mưng và Xing Nhã đánh nhau.
[…] Trên trời, dưới đất, mây mưa mù mịt, gió bão ầm ầm, đổ cây lở núi. Hai bên đánh nhau từ khi trái khơ- la chín, đến mùa kê trổ, vẫn không phân thắng bại. Cả hai đều kiệt sức, ngã trước chòi của Hơ- bia Bơ -lao.
(Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Hơ- bia Bơ- lao, Xing Nhã giết chết được Pơ- rong Mưng- người cuối cùng trong bảy anh em nhà Gia-rơ Bú, trả thù cho cha, cứu mẹ già thoát khỏi cuộc sống nô lệ) (Theo Bùi Văn Nguyên- Đỗ Bình Trị, Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam, Tập I, VHDG)
1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Thần thoại B. Sử thi C. Truyền thuyết D. Cổ tích
2. Nhân vật chính trong văn bản là ai?
A. Xing Nhã B. Gia- rơ kốt C. Gia- rơ Bú D. Pơ- rong Mưng
3. Trong câu chuyện, Xing Nhã đã đi tìm ai để trả thù?
A. Hơ- bia Guê B. Hơ- bia Bơ- lao C. Bơ- ra Tang D. Gia- rơ Bú
4. Xing Nhã đi trả thù vì kẻ thù đã giết hại cả cha và mẹ chàng.
A. Đúng B. Sai
5. Để đi trả thù, Xing Nhã đã làm gì?
A. Đi tìm bảy con trâu đực trắng để cúng Trời và Đất B. Đi tìm bạn Tông Á và Tông Y uê trợ giúp đánh kẻ thù
C. Đi tìm cây to làm khiên D. Đi tìm một con thoi chỉ
6. Dòng nào miêu tả đúng và đầy đủ đặc điểm của chiếc khiên mà Xing Nhã sử dụng?
(1) Khiên được làm bằng gỗ cây Kơ- pa
(2) Khiên được làm trong ba tháng
(3) Hàng trăm người tập trung mới nhấc được khiên
(4) Khi múa khiên, đất trời nổi dông gió mù mịt
(5) Vành khiên nạm bạc sáng chói
A (1)-(2)-(3) B (1)-(3)-(5) C (2)-(3)-(4) D (2)-(4)-(5)
7. Thủ pháp nghệ thuật nào được tác giả sử dụng trong các câu sau?
Khiên làm xong. Xing Nhã múa thử. Chiếc khiên múa xoay phía dưới chết con cọp, xoay phía trên chết con voi, khiên xoay theo đường cái, đất bụi dấy mù mịt, trời nổi dông to, gió lớn.
A.Nhân hoá B. So sánh C.Ẩn dụ D. Cường điệu
8. Tác dụng chính của biện pháp nghệ thuật ở câu 7 là gì?
A. Khắc hoạ sức mạnh phi thường của người anh hùng Xing Nhã
B. Khắc hoạ sức nặng của chiếc khiên được làm từ đồng, chì bạc
C. Cho thấy sự kì công của Xing Nhã và dân làng khi làm ra chiếc khiên
D. Nhấn mạnh tính hiệu quả của chiếc khiên được làm từ gô cây Kơ-lơng 9. Xác định đúng các chi tiết miêu tả Xing Nhã và Gia- rơ Bú trong cuộc chiến bằng cách đánh dấu X vào ô tương ứng:
Chi tiết
Xing Nhã
Gia- rơ Bú
Quay khiên múa, đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng bảy
Nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo
Múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc nước
Nhanh hơn bầy chim diều, chim ó
Đường đao chỉ đâm vào giữa trống không
Không đoán được đường đao chĩa về hướng nào
Mới đi một bước, đã chém trúng ngay chân…
Chiếc khiên đã bị đánh vỡ tung, rơi xuống đất
10. Dòng nào không thể hiện đúng ý nghĩa của chiếng thắng mà Xing Nhã đã đạt được trong văn bản trên?
A. Sức mạnh của chính nghĩa B. Kẻ ác phải bị trừng phạt
C. Chinh phục những vùng đất mới và thu phục những nô lệ mới
D. Vẻ đẹp của người anh hùng lí tưởng trong mơ ước của cộng đồng Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
11. Chỉ ra một số biểu hiện và nêu tác dụng của biện pháp so sánh giàu hình ảnh trong đoạn trích trên.
12. Tìm điểm giống nhau của các câu văn sau:
- …trúng trai gái ở bến nước, trúng bà già đi hái củi, trúng nhà Gia- rơ Bú gãy xà ngang, tan xà dọc, bể ché túc trị giá bằng con voi, bể ché ba trị bằng con bò.
- Gốc cây kơ- lơng lớn đến nỗi phải đi vòng một năm mới giáp gốc, năm tháng mới mút cành,…
- Những mảnh gỗ của Xing Nhã bay đi, làm cho con tê giác không dám ở trong bãi, con voi không dám ở trong rừng,…
- Chiếc khiên múa xoay phía dưới chết con cọp, xoay phía trên chết con voi…
13. So sánh nhân vật Đăm Săn (đoạn trích Chiến thắng Mtao Mx ây) và Xing Nhã (đoạn trích Xing Nhã trả thù nhà)
III/ VIẾT (4,0 điểm)
Từ văn bản trên, anh/chị biết thêm điều gì về đặc điểm văn hoá độc đáo của đồng bào Tây Nguyên. Hãy viết bày văn (khỏang 500 từ) trình bày suy nghĩ đó.
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Môn: NGỮ VĂN
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
6,0
1-10
1B,2A,3D,4B,5C,6D,7D,8A ... 10C
0.5
CÂU 9-Chi tiết
Xing Nhã
Gia- rơ Bú
Quay khiên múa, đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng bảy
X
Nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo
X
Múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc nước
X
Nhanh hơn bầy chim diều, chim ó
X
Đường đao chỉ đâm vào giữa trống không
X
Không đoán được đường đao chĩa về hướng nào
X
Mới đi một bước, đã chém trúng ngay chân…
X
Chiếc khiên đã bị đánh vỡ tung, rơi xuống đất
X
11
Một số biểu hiện của biện pháp so sánh: Đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng Bảy. Xing Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều, chim ó. Gia -rơ Bú múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc nước, như sao lạc đường -Tác dụng: Làm cho câu văn có hình ảnh, gợi cảm xúc. Làm nổi bật sức mạnh của Xing Nhã và sự kém cỏi của Gia- rơ Bú.
1.0
12
Các câu đều có nhiều vế, mỗi vế đều giống nhau về cấu trúc, tạo nên kiểu cấu trúc trùng điệp. Cách cấu trúc này tạo nhịp điệu cho câu văn, giúp câu văn giàu nhạc tính.
1.0
13
Giống nhau: + Cả hai nhân vật đều là những người anh hùng với sức mạnh phi thường, mang tầm vóc của thiên nhiên hùng vĩ, to lớn, + Đều là nhân vật mang vẻ đẹp chính nghĩa, chiến thắng của họ là chiến thắng trước cái ác, cái xấu. + Thể hiện ước mơ của cộng đồng về sự tiêu diệt cái xấu, cái ác, bảo vệ cái tốt, cái thiện.
1,5

onthicaptoc.com 20 De kiem tra cuoi HK1 Ngu van 10 CTST

Xem thêm
NỘI DUNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 10 – GKI
( Năm học 2023-2024)
I. Thời gian làm bài: 90 phút
CHỦ ĐỀ: SỬ THI
ĐỀ LUYỆN SỐ 1
Môn: Ngữ văn lớp 10
BỘ ĐỀ ÔN TẬP NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 10
KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 1
Đề 1. Viết bài văn nghị luận (400 – 600) từ thuyết phục người khác từ bỏ thói quen ghen tị (so sánh, đố kị) với người khác.
I. Đọc hiểu (2,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
SỨC CỎ
-1250950BÀI 1: TẠO LẬP THẾ GIỚI (THẦN THOẠI)00BÀI 1: TẠO LẬP THẾ GIỚI (THẦN THOẠI)ĐỌC
VĂN BẢN 1
THẦN TRỤ TRỜI
3596005-5715
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
I. Đọc hiểu (2,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Bây giờ là buổi trưa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.