ĐỀ ÔN TẬP CUỐI KÌ HK2 – MÔN NGỮ VĂN 7
I. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Đọc - Hiểu (4 điểm)
- Nhận biết + thông hiểu: 2 điểm (trắc nghiệm 4 câu)
- Vận dụng: 2 điểm (tự luận 2 câu)
+ Kiến thức tiếng Việt;
+ Hiểu được nội dung chính, ý nghĩa, thông điệp của văn bản;
+ Cảm nhận được nội dung, ý nghĩa của hình ảnh, chi tiết xuất hiện trong văn bản;
+ Từ nội dung ngữ liệu, học sinh trình bày quan điểm, suy nghĩ, rút bài học, vận dụng của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản.
- Lưu ý: Kiến thức tiếng Việt có thể trắc nghiệm hoặc tự luận.
2. Làm văn (6 điểm)
Vận dụng cao: Viết bài văn hoàn chỉnh
- Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa (Thể loại: Văn bản thông tin; Truyện khoa học viễn tưởng)
- Tiếng Việt: Số từ; Mở rộng thành phần chính và trạng ngữ bằng cụm từ.
- Làm văn: Văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ
+ Có công mài sắt, có ngày nên kim.
+ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
+ Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
II. MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO
ĐỀ THAM KHẢO SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU (4,0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích:
Tôi được biết cái ngã “may mắn đã hất tôi xuống một đường hầm gần như thẳng đứng. Cuộc di chuyển kinh khủng ấy đã ném tôi vào tay giáo sư, bất tỉnh và máu me đầy người.
[…]
- Biển!
- Phải! - Giáo sư đáp - Biển Li-đen-brốc đấy! Chắc chắn không một nhà hàng hải nào tranh chấp với chú về niềm vinh dự đã khám phá ra cái biển ngầm này và về quyền lấy tên mình đặt cho biển!
Một làn nước rộng trải ra mênh mông quá tầm mắt. Từng đợt sóng theo nhau xô lên bãi cát vàng mịn rải rác những vỏ ốc, vỏ sò. Tiếng sóng vỗ bờ rì rào âm vang. Bọt sóng nhẹ tung bay theo gió, phả vào mặt tôi.
Trên bãi thoai thoải này, ở cách mép sóng một khoảng là chân những rặng núi sừng sững, cao vút, với những cạnh đã như xé toạc bờ biển, đâm ra khơi thành những mũi đất. Xa xa, khối núi đá kéo dài in hình trên nền chân trời mù sương.
Đây quả thật là một đại dương với đường nét bờ biển thất thường hệt như ở những biển trên mặt đất, nhưng vắng vẻ và hoang dã một cách kinh khủng.
Sở dĩ tôi có thể phóng tầm mắt ra tít ngoài khơi vì mọi chi tiết trên biển đều được soi tỏ bằng thứ ánh sáng đặc biệt, không phải ánh sáng Mặt Trời với những tia nắng huy hoàng rực rỡ, cũng chẳng phải là ánh sáng lạnh lẽo, nhợt nhạt và mờ ảo của Mặt Trăng. Khả năng chiếu sáng, sự khuếch tán, sắc sáng trắng và khô, sự tăng nhiệt độ,..., tất cả chứng tỏ ánh sáng này thuần tuý do điện mà ra.
Vòm đá hoa cương treo trên đầu tôi giống hệt một bầu trời với những đám mây óng ánh đổi màu chuyển động. Tôi cứ ngỡ dưới một áp suất lớn như vậy của khí quyển, nước không thể bay hơi được, nhưng vì một lí do nào đó, trên cao lại dày đặc những đám mây lớn. Tuy vậy, đây vẫn không phải là Mặt Trời nên ánh sáng không nóng, hơn nữa còn gây ra một ấn tượng hết sức u sầu và ảm đạm! Ở trên những đám mây đáng lẽ phải là một bầu trời sao lấp lánh, lại thấy một vòm đá hoa cương đang dồn hết sức nặng lên người tôi và cả khoảng không gian dù bao la thế nào chăng nữa ấy cũng không thể đủ chỗ cho một vệ tinh khiêm tốn nhất du hành.
Như vậy, chúng tôi bị giam trong một cái hang rộng đến nỗi không thể ước lượng được diện tích. Từ hang và cả những từ khác trong tiếng nói của loài người cũng không đủ ý để miêu tả cái nơi rộng mênh mông này. Tôi cũng không biết nên dùng hiện tượng địa chất nào để giải thích sự tồn tại của một chỗ như vậy.
[…] Tôi đứng lặng ngắm tất cả những kì quan này mà tưởng như đang ở một hành tinh nào đó rất xa lạ với con người. Không tài nào tưởng tượng nổi, tôi ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, chiêm ngưỡng mà trong lòng thấy sửng sốt và kinh hãi!
Điều này cũng dễ hiểu, vì sau bốn mươi bảy ngày bị cầm tù trong một đường hầm chật hẹp, nay được hít thở cái không khí ẩm và mặn của biển, còn gì vui sướng hơn!
(Trích Cuộc du hành vào lòng đất, Giuyn Véc-nơ, Bích Thủy dịch,
NXB Thanh niên, 2000)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích trên thuộc thể loại gì?
A. Truyện khoa học viễn tưởng
B. Văn bản thông tin
C. Truyện cổ tích
D. Tản văn
Câu 2. Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
A. Kể lại câu chuyện nhân vật “tôi” khám phá ra một hành tinh mới
B. Kể lại câu chuyện nhân vật “tôi” bị tai nạn, rơi vào một chiếc hang rộng vô cùng
C. Kể lại câu chuyện nhà khoa học khám phá ra vùng biển Li-đen-brốc
D. Kể lại câu chuyện vị giáo sư khám phá ra một hòn đảo bí ẩn
Câu 3. Ý nào sau đây nhận xét đúng về cách viết của tác giả trong đoạn trích trên?
A. Sử dụng nhiều chi tiết thần kì, hoang đường, không có thực
B. Sử dụng nhiều cảnh tượng mang yếu tố thần linh, siêu nhiên
C. Tạo ra tình huống li kì chỉ có trong truyện thần thoại, truyền thuyết
D. Sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng nhưng có cơ sở khoa học
Câu 4. ... vì sau bốn mươi bảy ngày bị cầm tù trong một đường hầm chật hẹp... có mấy số từ?
A. Bốn
B. Ba
C. Hai
D. Một
Trả lời câu hỏi / Thực hiện yêu cầu:
Câu 5. Theo em, vì sao cuối đoạn trích, nhân vật “tôi” lại ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, chiêm ngưỡng mà trong lòng thấy sửng sốt và kinh hãi?
Câu 6. Giả sử ở trong hoàn cảnh của nhân vật “tôi”, tiếp theo phần cuối đoạn trích, em sẽ có suy nghĩ và hành động như thế nào? Trình bày từ 3 đến 5 câu, trong đó có một câu mở rộng thành phần chủ ngữ.
II. VIẾT (6,0 ĐIỂM)
Viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II
NĂM HỌC 2022 - 2023
MÔN NGỮ VĂN – KHỐI: 7
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
4,0
1
A
0,5
2
B
0,5
3
D
0,5
4
C
0,5
5
HS có thể diễn đạt theo cách riêng nhưng cần thể hiện được:
- Do vẻ đẹp trong lòng hang dưới mặt đất quá sức tưởng tượng của nhân vật tôi.
- Nhân vật “tôi” cảm thấy choáng ngợp trước vẻ đẹp ấy.
- ...
1,0
6
- HS tự do thể hiện trí tưởng tưởng, suy nghĩ của bản thân. Nội dung phù hợp, diễn đạt mạch lạc, đủ số câu.
- Có sử dụng một câu mở rộng thành phần chủ ngữ. Chú thích rõ ràng.
1,0
II
VIẾT
6,0
Viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
- Mở bài nêu được vấn đề
- Thân bài triển khai được vấn đề
- Kết bài khẳng định được vấn đề
0,5
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Lòng biết ơn
0,5
c. Triển khai vấn đề cần bàn luận
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của về câu tục ngữ, đảm bảo các yêu cầu sau:
* Mở bài:
+ Giới thiệu được câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây và vấn đề cần bàn luận: Lòng biết ơn.
+ Thể hiện ý kiến về vấn đề đó.
* Thân bài:
+ Giải thích: Ăn quả là gì? kẻ trồng cây là gì? => Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là gì?
+ Bàn luận:
- Nêu ý kiến 1 (Trình bày lí lẽ, bằng chứng đa dạng, thuyết phục làm sáng tỏ ý kiến).
- Nêu ý kiến 2 (Trình bày lí lẽ, bằng chứng đa dạng, thuyết phục làm sáng tỏ ý kiến).
- ...
+ Bàn luận vấn đề ở khía cạnh khác / Lật lại vấn đề.
Nhìn nhận vấn đề ở chiều hướng ngược lại, trao đổi với ý kiến trái chiều, đánh giá ngoại lệ, bổ sung ý để vấn đề thêm toàn vẹn.
(Cần sắp xếp các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng theo trình tự hợp lí và sử dụng các từ ngữ có chức năng chuyển ý)
* Kết bài:
+ Khẳng định lại ý kiến.
+ Đề xuất giải pháp, bài học nhận thức và phương hướng hành động.
4,0
d.Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
0,5
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc; có cách diễn đạt mới mẻ.
0,5
TỔNG ĐIỂM
10,0
ĐỀ THAM KHẢO SỐ 2
I.ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TRÒ CHƠI DÂN GIAN: NHẢY DÂY
“Nhảy dây là trò chơi dân gian Việt Nam có từ lâu đời, được mọi người yêu thích, lại còn dễ dàng tổ chức ở mọi nơi, những lúc rảnh rỗi. Trò chơi giúp rèn luyện khả năng bật cao, dẻo dai và phối hợp đồng đội tốt.
1. Chuẩn bị trước khi chơi: không gian chơi trên mặt phẳng không có chướng ngại vật. Diện tích chơi rộng hay hẹp phụ thuộc vào cách chơi và số lượng người tham gia chơi. Địa điểm lí tưởng để chơi nhảy dây là sân trường, sân chơi, bãi đất trống. Người chơi, trò chơi nhảy dây phù hợp với tất cả mọi người, cả nam và nữ, mọi lứa tuổi khác nhau. Số lượng người chơi cũng không nên quá đông từ 5 đến 8 người chơi, khiến cho các lượt chơi lâu hoặc khó quản lí. Có thể chia người chơi thành đội hoặc chơi cá nhân. Chuẩn bị dây chơi, tùy vào hình thức chơi nhảy dây, có thể sử dụng dây chơi kết bằng thun, nilon hoặc dây đay, vải sợi to, xơ dừa, chạc.
2. Cách chơi nhảy dây: Có rất nhiều cách thức chơi nhảy dây khác nhau. Tuy nhiên về cơ bản, người chơi đều phải tuân thủ luật đó là người nhảy không được giẫm chân lên trên dây. Nếu giẫm phải dây là thua cuộc. Có thể chọn luật chơi là nhảy cả hai chân cùng nhau hoặc nhảy kiểu chân trước chân sau...Sau đây là cách chơi nhảy dây nhóm đội nhiều người. Trước tiên, chia số lượng người chơi thành hai nhóm có số lượng bằng nhau. Tiếp theo, hai đội oẳn tù tì chọn ra đội chơi trước. Đội thua cử hai thành viên là người cầm hai đầu dây. Đội thắng thực hiện lượt chơi của mình. Có thể chọn luật chơi cho một người chơi một lúc hoặc nhiều người vào nhảy dây theo lần lượt hoặc cho hai người cùng nhảy một lượt, song không được để dây chạm vào chân mình. Người nào để dây chạm vào chân thì đội đó bị dừng cuộc chơi và đội đang quăng dây sẽ vào thay thế.
(Trích Thuvientrochoi.com)
Câu 1. (0.5 điểm) Đoạn trích “Trò chơi dân gian: nhảy dây”được viết theo thể loại?
A. Nghị luận.
B. Văn bản thông tin.
C. Thơ.
D. Vè.
Câu 2. (0.5 điểm) Xác định số từ trong câu sau?
“Trước tiên, chia số lượng người chơi thành hai nhóm có số lượng bằng nhau. Tiếp theo, hai đội oẳn tù tì chọn ra đội chơi trước.”
A. Số.
B. Nhóm.
C. Hai.
D. Đội.
Câu 3. (0.5 điểm) Cho biết ý nghĩa của số từ vừa xác định trong câu trên?
A. Chỉ số lượng nhóm chơi, đội chơi.
B. Chỉ số thứ tự nhóm chơi, đội chơi.
C. Chỉ số lượng và số thứ tự nhóm chơi, đội chơi.
D. Chỉ số lượng ước chừng.
Câu 4. (0.5 điểm) Nội dung chính của đoạn trích?
A. Giới thiệu các trò chơi dân gian.
B. Nêu ý nghĩa của trò chơi dân gian.
C. Nêu mục đích trò chơi nhảy dây.
D. Giới thiệu cách thực hiện trò chơi nhảy dây.
Câu 5. (1.0 điểm) Bài học mà em rút ra để giữ gìn nét đẹp các trò chơi dân gian ?
Câu 6. (1.0 điểm) Hãy kể tên 1 trò chơi dân gian khác? Nêu một vài hiểu biết của em về trò chơi đó?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về câu tục ngữ: “ Có công mài sắt, có ngày nên kim”.
-HẾT-
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THAM KHẢO KIỂM TRA HỌC KÌ II
Môn: Ngữ văn lớp 7
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
4,0
1
B
0,5
2
C
0,5
3
A
0,5
4
D
0,5
5
HS trả lời 2 trong số các ý sau:
Bài học:
+ Chơi các trò chơi dân gian;
+ Tuyên truyền, chia sẽ để các bạn và mọi người được biết và chơi các trò chơi…
(Chấp nhận ý kiến khác nếu hợp lí)
(Lưu ý: hs không lặp lại lệnh câu hỏi ở câu trừ 0.25 điểm)
1.0
6
Từ nội dung đoạn trích hs liên tưởng đến 1 trò chơi dân gian:
- Trò chơi kéo co, cướp cờ, ô ăn quan,…
- HS nêu được một vài hiểu biết về trò chơi dân gian.
(Lưu ý: hs không lặp lại lệnh câu hỏi ở câu trừ 0.25 điểm)
0.5
0.5
II
VIẾT
6,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khẳng đinh được vấn đề.
0,25
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: HS viết bài văn nghị luận.
0,25
c. Nghị luận về vai trò của tự học trong cuộc sống.
Mở bài:
– Dẫn dắt;
- Nêu vấn đề cần nghị luận: đức tính kiên trì.
- Trích dẫn câu tục ngữ;
Thân bài:
– Giải thích câu tục ngữ.
- Biểu hiện của người có tính kiên trì.
(Kết hợp nêu bằng chứng)
- Vai trò, ý nghĩa của tính kiên trì.
- Lật lại vấn đề.
Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề.
- Rút ra bài học.
5.0
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
0,25
e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời văn sinh động, sáng tạo.
0,25
(Lưu ý: Trân trọng sự sáng tạo của học sinh)
ĐỀ THAM KHẢO SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và chọn câu trả lời đúng nhất:
CÁCH NẤU CANH RAU NGÓT VỚI THỊT LỢN NẠC
(1) Nguyên liệu đủ cho hai bát:
* Rau ngót: 300 g (2 mớ) ;
* Thịt lợn nạc thăn: 150 g ;
* Nước mắm, mì chính, muối.
(2) Cách làm:
* Rau ngót chọn loại lá nhỏ, tươi, non, tuốt lấy lá, bỏ cọng, rửa sạch, vò hơi giập.
* Thịt lợn nạc rửa sạch, thái miếng mỏng (hoặc băm nhỏ).
* Cho thịt vào nước lã, đun sôi, hớt bọt, nêm nước mắm, muối vừa ăn, cho rau vào đun sôi khoảng 2 phút, cho chút mì chính rồi bắc ra ngay.
(3) Yêu cầu thành phẩm:
- Trạng thái: Rau chín mềm, tỉ lệ nước – cái là 1-1;
- Màu sắc: Rau xanh, nước trong;
- Mùi vị: Canh thơm mùi đặc trưng của nguyên liệu, độ ngọt cao, vị vừa ăn.
(Theo Hai trăm món ăn dân tộc, Sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 2, trang 25, NXBGD)
Câu 1(0.5 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào?
A. Văn bản nghị luận.
B. Văn bản truyện ngụ ngôn.
C. Văn bản truyền thuyết.
D. Văn bản thông tin.
Câu 2(0.5 điểm): Mục đích của văn bản trên là gì?
A. Giới thiệu cách nấu một món ăn.
B. Giới thiệu cách thức tiến hành một hoạt động.
C. Hướng dẫn cách nấu canh rau ngót với thịt lợn nạc.
D. Hướng dẫn cách thức thực hiện một trò chơi.
Câu 3 (0.5 điểm): Theo văn bản, để nấu canh rau ngót với thịt lợn nạc thì cần những nguyên liệu nào?
A. Rau ngót, thịt lợn nạc thăn, nước mắm, mì chính, muối.
B. Rau ngót, thịt lợn, nước mắm.
C. Thịt lợn nạc, rau ngót, mì chính.
D. Rau ngót, thịt lợn nạc, muối.
Câu 4 (0.5 điểm): Qua việc đọc văn bản trên, em hiểu thế nào là một món ăn ngon?
A. Món ăn ngon là món ăn sử dụng các thực phẩm an toàn.
B. Món ăn ngon là món ăn sử dụng các thực phẩm an toàn, được chế biến phù hợp với khẩu vị, cân đối dinh dưỡng.
C. Món ăn ngon là món ăn được chế biến phù hợp với khẩu vị, cân đối dinh dưỡng.
D. Món ăn ngon là món ăn sử dụng các thực phẩm an toàn, được chế biến phù hợp với khẩu vị, cân đối dinh dưỡng và được trang trí đẹp mắt,…
Câu 5 (1.0 điểm): Tìm và xác định chức năng của số từ trong câu sau: “Cho thịt vào nước lã, đun sôi, hớt bọt, nêm nước mắm, muối vừa ăn, cho rau vào đun sôi khoảng 2 phút, cho chút mì chính rồi bắc ra ngay”.
Câu 6 (1.0 điểm): Văn bản trên gợi cho em suy nghĩ gì về nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của dân tộc?
II. VIẾT (6.0 điểm)
Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim.
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II
Môn: Ngữ văn lớp 7
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
4,0
1
D
0,5
2
C
0,5
3
A
0,5
4
D
0,5
5
Xác định đúng số từ và chức năng của số từ trong câu.
1,0
6
Học sinh nêu được suy nghĩ của bản thân sao cho hợp lí.
1,0
II
VIẾT
6,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.
0,25
b. Xác định đúng yêu cầu của đề
Viết được bài văn nghị luận về câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim.”
0,25
c.Yêu cầu đối với bài văn.
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần bàn luận và nêu ý kiến.
* Thân bài:
+ Giải thích.
+ Bàn luận.
+ Lật lại vấn đề.
* Kết bài: Khẳng định lại vấn đề, bài học nhận thức,…
5,0
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
0,25
e. Sáng tạo: Có sự sáng tạo về dùng từ, diễn đạt bằng lời văn của mình
0,25
ĐỀ THAM KHẢO SỐ 4
I.Đọc- Hiểu:(4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
[...] Tôi nói rồi cùng đi với Ne-mô đến cầu thang trung tâm. Ở đó đã tập hợp chừng hai mươi người cầm rìu sẵn sàng chiến đấu. Nét cầm lấy dao nhọn, còn tôi và Công-xây thì dùng rìu. Tàu Nau-ti-lơtx đã nổi lên mặt nước. Một thủy thủ vừa vặn ê-cu ra thì nắp tàu đã bật lên rất mạnh, rõ ràng là do sức hút của một con bạch tuộc nào đó. Lập tức một cái vòi dài trườn xuống dưới thang như một con rắn, còn độ hai chục vòi nữa thì ngoằn ngoèo ở phía trên. Thuyền trưởng Ne-mô lấy rìu chặt đứt phăng cái vòi khủng khiếp đó khiến nó lặn xuống. Trong khi chúng tôi cố mở đường lên boong tàu thì hai cái vòi khác lao tới một thủy thủ đứng trước Ne-mô rối nhấc bổng anh ta lên. Thuyền trưởng vừa kêu vừa nhảy vọt ra ngoài. Chúng tôi vội lao theo. Cảnh tượng thật đáng sợ! Người thủy thủ khốn khổ bị vòi bạch tuộc quấn chặt, đang chới với trên không. Anh ta bị nghẹt thở, kêu lên: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!” [...]
Nhưng Ne-mô đã xông đến và chặt đứt luôn cái vòi. Viên thuyền phó, các thủy thủ và ba người chúng tôi cũng dùng vũ khí chiến đấu quyết liệt với những con bạch tuộc khác đang bò trên thành tàu. Thật là khủng khiếp! Có lúc, tôi tưởng người bị nạn sắp được cứu thoát khỏi sức hút của vòi bạch tuộc. Con quái vật có tám vòi thì bảy vòi đã bị chặt đứt. Cái vòi còn lại vẫn quấn chặt người thủy thủ và ngoe nguẩy trên không. Khi Ne-mô và viên thuyền phó vừa lao tới thì quái vật liền phun ra một chất lỏng màu đen. Chúng tôi lập tức bị tối tăm mặt mũi chẳng nhìn thấy gì. Khi đám “mây” đen tan đi thì quái vật đã biến mất, mang theo cả người đồng hương xấu số của tôi!
Chúng tôi xông đến lũ bạch tuộc. Ai nấy đều sục sôi căm thù. Trên boong tàu và ở thành tàu có độ mười, mười hai con. Chúng bị chém đứt và quằn quại trong máu xanh và “mực” đen. Nét Len phóng dao nhọn vào những cái mắt xanh xám của quái vật, lần nào cũng trúng đích. Tuy vậy, anh bạn dũng cảm của tôi chưa kịp quay lại thì đã bị một đối thủ dùng vòi quật ngã. Cái mỏ đáng sợ của quái vật đã há hốc ra ở phía trên Nét. Tôi lao tới cứu anh ta. Nhưng Ne-mô đã đến trước tôi. Lưỡi rìu của Ne-mô cắm phập vào mồm quái vật. Nét thoát chết liền đứng dậy và phóng ngập mũi dao vào tim kẻ thù.
- Tôi có bổn phận trả ơn ông! - Ne-mô bảo Nét. Nét chỉ nghiêng mình đáp lại.
Cuộc chiến đấu kéo dài mười lăm phút. Lũ bạch tuộc chiến bại, phần bị chết, phần bị thương, cuối cùng phải bỏ chiến trường mà lẩn xuống biển sâu. Thuyền trưởng Ne-mô, mình nhuốm đầy máu, đứng lặng người bên chiếc đèn pha mà nhìn xuống biển cả vừa nuốt mất một người đồng hương của mình. Mắt Ne-mô ứa lệ.
(Trích “Hai vạn dặm dưới đáy biển”- Giuyn Véc-nơ, Đỗ Sơn Ca dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1976)
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào? (0.5đ)
A. Văn bản thông tin C. Truyện khoa học viễn tưởng
B. Truyện D. Tùy bút
Câu 2: Nội dung chính của văn bản trên là gì?(0.5đ)
A. Kể về hành trình khám phá đáy đại dương của tàu Nau-ti-lớtx.
B. Kể về hành trình khám phá đại dương của giáo sư A-rô-nắc cùng những người bạn.
C. Kể về thuyền trưởng Ne-mô và thủy thủ tàu Nau-ti-lớtx.
D. Trận chiến quyết liệt của đoàn thủy thủ tàu Nau-ti-lớtx với những con bạch tuộc khổng lồ.
Câu 3: Những chi tiết nào trong đoạn trích trên cho thấy người viết có những hiểu biết dựa vào thành tựu của khoa học?(0.5đ)
A. Những chi tiết miêu tả cuộc chiến đấu trên boong tàu.
B. Các chi tiết miêu tả về những con bạch tuộc.
C. Chi tiết miêu tả con tàu Nau-ti-lớtx.
D. Chi tiết miêu tả về các thủy thủ.
Câu 4: Trong câu văn cuối đoạn trích, theo em tại sao mắt Ne-mô ứa lệ ?(0.5đ)
A. Vì thương người đồng hương xấu số bị bạch tuộc cuốn đi mất.
B. Vì đã chiến thắng trong trận chiến đấu với bạch tuộc.
C. Vì quá mệt mỏi sau trận chiến.
D. Vì ông quá xúc động với nhiều cảm xúc trong trận chiến đấu.
Câu 5: (1,0 điểm)
a. Xác định 1 số từ có trong câu sau đây và chỉ ra ý nghĩa của nó: “Lập tức một cái vòi dài trườn xuống dưới thang như một con rắn, còn độ hai chục vòi nữa thì ngoằn ngoèo ở phía trên.”
b. Đặt câu với số từ mà em vừa tìm được.
Câu 6: Trong đoạn trích trên, bản thân em rút ra cho mình bài học gì khi gặp những tình huống khó khăn, và thử thách nguy hiểm trong cuộc sống?(1,0 điểm)
Phần II. Làm văn: (6,0 điểm)
Đề bài: Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ sau: “Có công mài sắt có ngày nên kim”.
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THAM KHẢO CUỐI HỌC KÌ II
Môn: Ngữ văn lớp 7
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
4,0
1
A
0,5
2
D
0,5
3
B
0,5
4
A
0,5
5
- HS xác định được một trong hai số từ trong câu văn: Một, hai chục(0.25đ)
Ý nghĩa: chỉ số lượng (0.25đ)
-HS đặt được 1 câu có sử dụng số từ vừa tìm được. (0.5 điểm)
1,0
10
- HS tự trả lời theo cảm nhận riêng của bản thân, chỉ ra được bài học cho bản thân khi gặp những tình huống khó khăn, và thử thách nguy hiểm trong cuộc sống: phải bình tĩnh đối mặt với khó khăn, thử thách; suy nghĩ kĩ, tìm cách giải quyết; biết đoàn kết để có thể dễ dàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách…..
1,0
II
VIẾT
6,0
1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
0,5
2. Xác định đúng yêu cầu của đề.
Trình bày suy nghĩ của bản thân về các vấn đề nghị luận đặt ra ở đề bài:
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ sau: “Có công mài sắt có ngày nên kim”.
0,5
3. HS có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách, nhưng về cơ bản phải đáp ứng các nội dung sau:
HS viết bài văn nghị luận theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo các yêu cầu sau:
• MB: Giới thiệu được vấn đề nghị luận, thể hiện được ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận: ý chí, nghị lực qua câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim.
• TB:
- Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ.
- Bàn luận: khẳng định ý kiến tán thành/ phản đối của bản thân.
Trình bày các lí lẽ, bằng chứng làm sáng tỏ ý kiến của bản thân về vấn đề cần nghị luận.
- Lật lại vấn đề (phản đề): phê phán những người thiếu ý chí, nghị lực.
• KB: Khẳng định lại ý kiến.
Đề xuất giải pháp, bài học nhận thức và phương hướng hành động.
4,5
0,5
3.5
0,5
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
0,25
e. Sáng tạo: Có sự sáng tạo về dùng từ, diễn đạt, lí lẽ, bằng chứng rõ ràng, thuyết phục.
0,25
ĐỀ THAM KHẢO SỐ 5
I. ĐỌC HIỂU (4, 0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỊA ĐÀNG TRẦN GIAN
(Trích Utopia – Địa đàng trần gian – T.More)
Rồi cả Peter Gilles và tôi lên tiếng xin Raphael tiên sinh cho nghe chuyện. Thấy chúng tôi thực lòng, tiên sinh bèn để một lúc để sắp xếp câu chuyện trong đầu, rồi bắt đầu kể như sau:
RAPHAEL: Ta bắt đầu nhé. Hòn đảo ấy rộng nhất ở quãng giữa, chừng hai trăm dặm từ bờ này sang bờ kia. Những chỗ khác cũng chẳng hẹp hơn là bao, chỉ trừ hai đầu là thu hẹp dần và lượn vòng như thể vẽ bằng com-pa, nối toàn bộ đảo thành ra như một vòng tròn có đường kính khoảng năm trăm đến dặm vậy. Đúng hơn hãy mường tượng nó như một hình lưỡi liềm rất cong có hai mỏm chóp chỉ cách nhau bởi một eo biển rộng xấp xỉ mười một dặm. Biển tràn vào trong lòng đảo qua eo này, làm thành một vùng hồ mênh mông giữa đảo. Được bao bọc khắp xung quanh, nước hồ lúc nào cũng êm ả. Vậy là cái vịnh yên tĩnh ngay giữa lòng đảo ấy trở thành một hải cảng lớn rất thuận tiện, thuyền bè có thể dong buồm ngang dọc trên đó theo đủ mọi hướng. Vùng eo biển hẹp thì lại rất hiểm trở với đầy những đồi cát và đá ngầm. Một hòn núi đá nhô cao hằn lên mặt nước ở ngay giữa eo, và người ta xây một pháo đài ở trên đó, lúc nào cũng có lính canh. Chỉ có những hoa tiêu địa phương mới biết rõ vùng đá ngầm nguy hiểm đó và có thể đưa tàu bè ra vào một cách an toàn. Không có hoa tiêu người Utopia thì tàu thuyền ngoại quốc không thể nào vào được trong đảo.
Mỗi bệnh viện lớn bằng khoảng một thành phố nhỏ. Ý tưởng là vừa tránh cho bệnh viện bị quá tải, vừa tạo điều kiện tốt cho việc cách li những chứng bệnh lây lan truyền nhiễm. Những bệnh viện này được quản lí rất chu đáo, luôn đầy đủ thuốc men và thiết bị với những đội ngũ bác sĩ và hộ lý xứng đáng là lương y như từ mẫu đến nỗi hễ ốm đau là ai cũng muốn vào bệnh viện chứ không muốn nằm nhà.
[...] Đất đai của họ không phải lúc nào cũng màu mỡ, và khí hậu không phải là hoàn toàn thuận lợi nhưng nhờ một chế độ dinh dưỡng cân bằng mà họ xây dựng được sức đề kháng của mình chống lại những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, và bằng công việc canh tác rất chu đáo, họ đã chỉnh đốn được những khiếm khuyết của đất đai. Kết quả là họ đã phá vỡ mọi kỉ lục về sản xuất, và chăn nuôi gia súc, tuổi thọ trung bình của họ là cao nhất thế giới, và tỉ lệ mắc bệnh là thấp nhất. Như vậy là với những phương pháp khoa học, họ đã làm nên những điều thần kì ở một vùng thiên nhiên vốn nghèo nàn cạn kiệt.
(T. More, Utopia – Địa đàng trần gian, NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam, 2006, tr. 86, 87, 88, 108, 110, 152)
Câu 1 (0.5 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Truyền thuyết
B. Truyện ngắn
C. Truyện khoa học viễn tưởng
D. Tùy bút
Câu 2 (0.5 điểm): Địa hình tự nhiên của đất nước Utopia có gì đặc biệt?
A. Địa hình hiền hòa, yên ả, mọi người ra vào tấp nập.
B. Vùng eo biển hiểm trở, mọi người có thể thuận tiện đi lại.
C. Tàu bè có thể qua lại tự do ở vùng eo biển.
D. Chỉ có những hoa tiêu địa phương mới biết rõ vùng đá ngầm nguy hiểm đó và có thể đưa tàu bè ra vào một cách an toàn.
Câu 3 (0.5 điểm): Ở Utopia, bệnh viện sẽ được xây dựng như thế nào?
A. Bệnh viện lớn bằng một thành phố nhỏ.
B. Bệnh viện được quản lí rất chu đáo, luôn đầy đủ thuốc men và thiết bị.
C. Đội ngũ y, bác sĩ giỏi và yêu thương bệnh nhân.
D. Cả ba đáp án trên.
Câu 4 (0.5 điểm): Số từ trong câu “Mỗi bệnh viện lớn bằng khoảng một thành phố nhỏ.” là:
A. Mỗi
B. Bằng
C. Một
D. Nhỏ
Câu 5 (1.0 điểm): Theo em, viết về một xã hội lí tưởng như Utopia, tác giả T.More muốn thể hiện điều gì?
Câu 6( 1.0 điểm) : Trình bày những điều em cho là đẹp nhất của xã hội Việt Nam hiện nay.
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Tục ngữ Việt Nam có câu:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Em hãy làm sáng tỏ nội dung câu tục ngữ trên.
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THAM KHẢO CUỐI KÌ - HỌC KÌ II
Môn: Ngữ văn lớp 7
Năm học: 2022-2023
onthicaptoc.com 15 de on tap HK2 Ngu van 7 co dap an
PHẦN ĐỌC HIỂU
PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
ÔN TẬP
TIẾNG NÓI VẠN VẬT
VĂN BẢN 1: LỜI CỦA CÂY
(Trần Hữu Thung)
ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Môn: Ngữ văn 7 - Năm học: 2023– 2024
(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề)
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Ôn tập cơ bản và nâng cao về đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại toàn bộ các thể loại HS được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 gồm:
ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: