BÀI 1: THƠ VÀ THƠ SONG THẤT LỤC BÁT
Thời lượng thực hiện: 12 tiết
------------------
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Kiến thức
- HS biết được đặc điểm hình thức và nội dung của thể thơ song thất lục bát.
- HS hiểu về chữ viết tiếng Việt (chữ Nôm, chữ Quốc ngữ), yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn
- Vận dụng viết được bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm thơ và nhận biết được tính thuyết phục của một ý kiến.
2. Năng lực
a. Năng lực chung: (năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo)
- Biết lắng nghe, phản hồi tích cực trong giao tiếp, thực hiện được các nhiệm vụ học tập theo nhóm.
- Biết phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau; hình thành được ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho.
b. Năng lực chuyên biệt:
- Xác định và phân tích được một số yếu tố thi luật của thể thơ song thất lục bát như: Số dòng, số chữ, vần và nhịp trong một khổ thơ. Thấy được sự khác biệt giữa thơ song thất lục bát với thơ lục bát. Vận dụng được hiểu biết về lịch sử văn học để đọc hiểu văn bản.
- Có một số hiểu biết ban đầu về chữ viết tiếng Việt (Chữ Nôm, chữ Quốc ngữ) để vận dụng vào thực tế. Nhận biết được sự khác biệt về nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ gây nhầm lẫn.
- Viết được bài nghị luận phân tích một tác phẩm thơ.
- Nghe và nhận biết được tính thuyết phục của một ý kiến; chỉ ra được những hạn chế (nếu có) như: lập luận thiếu loogic, bằng chứng chưa đủ hoặc không liên quan đến luận điểm.
3. Phẩm chất
- Tự hào về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc; trân trọng tình bạn, khát vọng hạnh phúc và tình cảm gia đình.
II. PHƯƠNG TIỆN VÀ HỌC LIỆU
1. Giáo viên:
- Kế hoạch bài học. - Học liệu: Đồ dùng dạy học, phiếu học tập, sơ đồ tư duy.
- Các phương tiện kỹ thuật, tranh ảnh liên quan đến chủ đề bài học.
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp.
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà.
2. Học sinh: - Soạn bài. - Thực hiện nhiệm vụ mà GV giao cho.
IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC:
Tuần: Tiết: 5,6,7
Ngày soạn: …../....../2024
Ngày dạy: …../....../2024
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
SÔNG NÚI NƯỚC NAM
a. Mục tiêu: Sau khi đọc hiểu văn bản xong HS:
- Nhận biết được thể loại của văn bản “Sông núi nước Nam”.
- Nhận diện đôi nét về tác giả, tác phẩm của văn bản “Sông núi nước Nam”.
- Xác định và phân tích được các đặc điểm của văn bản: Vần, nhịp, niêm, luật…
- Xác định và phân tích được bố cục của văn bản.
- Nhận diện và phân tích được nội dung bao quát của văn bản
- Nhận diện và phân tích được tinh thần độc lập khí phách hào hùng, khát vọng lớn lao của dân tộc trong bài thơ.
- Viết bài văn phân tích được tinh thần độc lập khí phách hào hùng, khát vọng lớn lao của dân tộc trong bài thơ.
b. Nội dung: GV sử dụng PPDH dạy học đàm thoại gợi mở, hợp tác, kĩ thuật dạy học chia nhóm, động não, hướng dẫn HS hoàn thành các nhiệm cụ học tập.
c. Sản phẩm: HS nắm được đặc trưng thể loại và đọc hiểu được văn bản
d. Tổ chức thực hiện:
1. HOẠT ĐỘNG: MỞ ĐẨU (5’)
- GV tổ chức cho HS xem video: “Lí Thường Kiệt và trận chiến trên sông Như nguyệt”:
(1) Video trên nhắc đến nhân vật và sự kiện lịch sử nào?
(2) Bài thơ vang lên ở cuối đoạn video là bài thơ nào?
- HS tiếp thu
- GV yêu cầu HS hoạt động trong 5 phút
- HS hoạt động cá nhân:
(1) Quan sát video tập trung
(2) Suy nghĩ trả lời câu pháp vấn (1) và (2)
- GV tổ chức cho HS báo cáo
- HS báo cáo sản phẩm
* Dự kiến sản phẩm:
+ Đoạn video trên nhắc về Lí Thường Kiệt và trận chiến trên sông Như Nguyệt.
+ Cuối đoạn video bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”
- GV và HS nhận xét báo cáo
- GV chốt kiến thức/ bổ sung và dẫn dắt vào bài: Đất nước ta trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, bao triều đại đi qua là bấy nhiêu triều đại đứng lên đấu tranh chống ngoại xâm giữ nước. Truyền thống ấy đã được phản ánh trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là văn học Lí Trần. Văn bản “Sông núi nước Nam” sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về điều đó.
Hoạt động 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI (25’)
I. ĐỌC – TÌM HIỂU CHUNG
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
* HDHS tìm hiểu kiến thức phần kiến thức Ngữ văn
- GV yêu cầu HS hoạt động nhóm:
(1) Xem lại phần kiến thức về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã học ở học kì II lớp 8.
(2) Nêu khái niệm về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt?
(3) Nhắc lại những đặc trưng của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt?
(4) Phương pháp đọc hiểu văn bản thơ thất ngôn tứ tuyệt?
- HS tiếp nhận
- GV tổ chức cho HS làm việc trong thời gian 10 phút
- HS hoạt động nhóm:
(1) Đọc phẩn Kiến thức ngữ văn về thơ thất ngôn tứ tuyệt ở SGK Ngữ văn 8, tập 2, bộ Cánh diều.
(2) Nhắc lại khái niệm thể thơ.
(3) Nêu những đặc trưng của thơ song thất lục bát.
(4) Trình bày phương pháp đọc hiểu văn bản.
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
1. Kiến thức ngữ văn
a. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
* Khái niệm
- Thất ngôn tứ tuyệt là thể thơ nổi tiếng thời nhà Đường (TQ). Một bài thơ thường gồm 4 dòng thơ, mỗi dòng được cấu tạo bởi 7 tiếng.
* Đặc trưng thể loại
- Số dòng: 4 dòng/ bài
- Số tiếng: 7 tiếng/ dòng
- Bố cục:
+ Khai/ khởi: Gợi mở ý thơ.
+ Thừa: Tiếp nối ý ở câu đầu để làm trọn vẹn ý thơ.
+ Chuyển: Chuyển ý thơ từ phản ánh sự vật, hiện tượng sang gợi mở về bản chất và nguyên nhân của sự vật, hiện tượng.
+ Hợp: Cùng cây chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm tác giả.
- Niêm (dính): câu 1-4, 2-3 có kết dính với nhau.
- Luật: Tuân thủ lật Bằng – Trắc, chữ thứ 2 mang thanh nào thì bài thơ mang luật đó.
- Vần (thơ Đường ít dùng vần Trắc): chữ cuối cùng của các dòng 1,2,4 vần với nhau.
- Nhịp: thường ngắt nhịp chẵn trước lẻ sau (4/3; 2/2/3)
- Đối: câu, từ, âm…
=> GV bổ sung: Đường luật là thể thơ rất nổi tiếng trong văn học Trung Quốc, có từ thời Đường (618 – 907), sau đó du nhập sang Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Ở Việt Nam, trên cơ sở của thơ Đường luật và thơ ca truyền thống, cha ông ta đã sáng tạo ra thể thơ Nôm Đường luật mang bản sắc dân tộc. Sang thời hiện đại, thơ Đường luật còn được viết bằng chữ Quốc ngữ. Thơ Đường luật thường được viết bằng hai thể thất ngôn (mỗi câu bảy chữ) và ngũ ngôn (mỗi câu năm chữ). Có hai dạng thơ phổ biến: bát cú (mỗi bài tám câu) và tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu). Thơ Đường luật là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ thời nhà Đường ở Trung Quốc. Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức tạp được thể hiện ở 5 điều sau: Luật, Niêm, Vần, Đối và Bố cục. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng thất ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn; biến thể có các dạng: thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), ngũ ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu năm chữ), ngũ ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác.
=> GV chuyển ý: Thông qua hoạt động trên, các em đã nắm được khái niệm và đặc trưng của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bước sang hoạt động tiếp theo, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu chung về văn bản…
* HDHS tìm hiểu chung về văn bản
- GV yêu cầu HS nhóm cặp đôi hoàn thành PHT sau:
(1) Đọc văn bản đúng theo hướng dẫn.
(2) Theo em tác giả của văn bản là ai?
(3) Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Mục đích của bài thơ là gì?
(4) Xác định phương thức biểu đạt và thể loại của văn bản?
(5) Xác định bố cục và nội dung chính của từng đoạn?
- HS tiếp nhận
- GV cho HS làm việc trong thời gian 10 phút:
(1) Hướng dẫn HS đọc văn bản đúng cách.
(2) Đọc mẫu văn bản.
(3) Quan sát, giúp đỡ nếu HS cần khi hoạt động nhóm cặp đôi.
- HS hoạt động nhóm cặp đôi:
(1) Đọc văn bản đúng theo hướng dẫn.
(2) Hoàn thành yêu cầu của PHT.
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
2. Tìm hiểu chung văn bản
* Đọc, chú thích
a. Tác giả
- Chưa rõ
- Tương truyền là của Lí Thường Kiệt
b. Văn bản
* Hoàn cảnh sáng tác:
- Sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 (1077), đọc ở miếu thần trên phòng tuyến Như Nguyệt (nam sông Cầu).
* Mục đích:
- Động viên, khích lệ tinh thần tướng sĩ
- Làm quân địch hoang mang, khiếp sợ.
- Được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc ta.
* Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
* Bố cục: 2 phần
- Hai câu đầu: Nước Nam là của ngưòi Nam. Điều đó đã được sách trời định sẵn, rõ ràng.
- Hai câu cuối: Kẻ thù không được xâm phạm, nếu xâm phạm sẽ chuốc lấy bại vong.
=> GV bổ sung: Bài thơ chưa rõ tác giả là ai và có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ, trong đó truyền thuyết được nhiều người tin tưởng nhất kể như sau: Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt, bỗng một đêm, quân sĩ nghe từ trong đền thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát có tiếng ngâm bài thơ này.
=> GV chuyển ý: Thông qua hoạt động trên, ta đã cơ bản thấy được hoàn cảnh và mục đích bài thơ ra đời. Vậy những đặc điểm nào trong bài thơ “Nam quốc Sơn Hà” mang đặc trưng của thể thơ song thất lục bát. Ta cùng bước sang hoạt động tiếp theo…
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
* HDHS tìm hiểu một số đặc trưng của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong văn bản
- GV yêu cầu HS hoạt động nhóm hoàn thành PHT sau:
(1) Văn bản thuộc thể thơ nào?
(2) Dấu hiệu nhận biết nào cho em biết thể thơ đó?
(3) Chỉ ra biểu hiện niêm, vần, đối, nhịp của bài thơ?
(4) Nhận xét về đặc điểm thi luật của bài thơ?
(5) “Sông núi nước Nam” được coi là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc vì đã khẳng định những điều gì?
- HS tiếp nhận
- GV tổ chức cho HS làm việc trong thời gian 7 phút
- HS hoạt động nhóm
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
1. Một số đặc trưng của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong văn bản.
- Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt luật Đường.
- Dấu hiệu nhận biết:
+ Số câu: 4
+ Số chữ trong 1 câu: 7
- Niêm: chữ thứ 2 trong câu một là “bằng” niêm với chữ thứ 2 của câu 4 cũng là “bằng”, chữ thứ 2 của câu 2 là “trắc” niêm với chữ thứ 2 của câu 3 cũng là “trắc”.
- Vần: chỉ hiệp theo một vần ở các câu 1,2 và 4 (cư- thư- hư).
- Đối: Thơ tứ tuyệt không có quy định đối cụ thể và khắt khe như thơ thất ngôn bát cú.
- Nhịp: 4/3
=> Bài thơ tuân thủ quy định về niêm, vần, đối, nhịp của một bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt luật bằng vần bằng theo luật Đường.
=> “Sông núi nước Nam” có thể coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, mang hai nội dung lớn: khẳng định độc lập dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó.
=> GV bổ sung, chuyển ý:
Nam quốc sơn hà / Nam đế cư,
B T B B B T B
Tiết nhiên định phận / tại thiên thư
T B T T T B B
Như hà nghịch lỗ / lai xâm phạm,
B B T T B B T
Nhữ đẳng hành kha / thủ bại hư.
T T B B T T B
Từ những đặc điểm trên bài thơ mang đầy đủ đặc trưng của thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Hơn thế nữa, văn bản này còn được coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, mang hai nội dung lớn: khẳng định độc lập dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó. Vậy những khẳng định đó được thể hiện như thế nào? Ta cùng bước sang hoạt động tiếp theo…
* HDHS tìm hiểu lời khẳng định độc lập dân tộc
- GV yêu cầu HS đọc 2 dòng thơ đầu và trả lời câu hỏi sau:
(1) Trong 2 dòng đầu muốn khẳng định điều gì?
(2) Em hiểu nghĩa của các từ “Nam quốc”, “Nam đế”, “tiệt nhiên”, “định phận”, “thiên thư” là gì? Các từ trên đóng vai trò như thế nào trong 2 dòng thơ đầu?
(3) Trong phần dịch thơ dịch “vua Nam ở” sẽ khiến cho ý thơ thay đổi ra sao? Việc sử dụng chữ “đế” có tác dụng gì?
(3) Căn cứ vào đâu tác giả khẳng định cương vực lãnh thổ nước ta? Tại sao?
(4) Từ 2 dòng thơ đầu, em có nhận xét gì về tác giả bài thơ?
- HS tiếp nhận
- GV tổ chức cho HS làm việc trong thời gian 10 phút
- HS hoạt động
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
2. Cơ sở khẳng định độc lập chủ quyền
a. Khẳng định nền độc lập dân tộc
* Có chủ quyền riêng
- “Nam quốc”: nước Nam
- “sơn hà”: sông núi
- “Nam đế cư” – “vua nước Nam”
+ “vua”: có nhiều, phụ thuộc và đế, quyền lực xếp sau đế.
+ “đế”: duy nhất, chỉ có 1, toàn quyền, có quyền lực cao nhất.
=> Khẳng định mạnh mẽ quyền của vua Nam với nước Nam sánh ngang hàng với Bắc đế.
=> Độc lập và không phụ thuộc vào Bắc đế
* Có cương vực lãnh thổ riêng
- “tiết nhiên”: Điều tất nhiên, dĩ nhiên, sẵn có…
- “định phận”: địa phận, lãnh thổ đã được phân định rõ ràng
- “thiên thư”: sách trời
=> Ghi nhận cương vực, lãnh thổ của nước Nam đã được trời đát phân định rõ ràng.
=> Hai câu đầu khẳng định độc lập dân tộc trên cở sở cương vực lãnh thổ và chủ quyền của nước Nam.
=> GV bổ sung, chuyển ý: Hai câu đầu khẳng định độc lập dân tộc trên cở sở cương vực lãnh thổ và chủ quyền của nước Nam. Trước hết về chủ quyền, Đại Việt là đất nước có chủ quyền riêng, điều này được thể hiện rõ qua cụm từ “Nam đế cư”. Trong phần dịch thơ được dịch là “vua Nam ở”. Ở đây chúng ta cần có sự phân biệt rạch ròi giữa đế và vua, vì đây là hai khái niệm rất khác nhau. Đế là duy nhất, toàn quyền, có quyền lực cao nhất; Vua thì có nhiều, phụ thuộc vào đế, quyền lực xếp sau đế. Bởi vậy, khi sử dụng chữ đế trong bài đã khẳng định mạnh mẽ quyền của vua Nam với nước Nam, đồng thời khi sử dụng “Nam đế” thì mới sánh ngang hàng với “Bắc đế”, độc lập và không phụ thuộc vào Bắc đế. Về cương vực lãnh thổ, nước ta có cương vực riêng đã được quy định ở sách trời. Căn cứ vào thiên thư nước ta nằm ở phía nam núi Ngũ Lĩnh thuộc địa phận sao Dực và sao Chẩn. Dựa vào sách trời để khẳng định chủ quyền của đất nước rất phù hợp với tâm lí, niềm tin của con người ngày xưa (tin vào số phận, mệnh trời) bởi vậy càng có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Đồng thời sách trời ở đây cũng tương ứng với chân lí khách quan, qua đó tác giả cũng ngầm khẳng định sự độc lập của đất nước ta là chân lí khách quan chứ không phải ý muốn chủ quan.
* HDHS tìm hiểu sự quyết tâm bảo vệ dân tộc được khẳng định trong bài thơ
- GV yêu cầu HS:
(1) Câu “Như hà…” là kiểu câu gì? Mục đích sử dụng kiểu câu này là gì?
(2) Em hiểu từ “nghịch lỗ”, “thủ bại hư” dùng để chỉ điều gì?
(3) Nhận xét về giọng thơ trong 2 dòng thơ này?
(4) Hai dòng thơ cuối muốn khẳng định thái độ và cảm xúc gì?
- HS tiếp nhận
- GV tổ chức cho HS làm việc trong thời gian 10 phút
- HS hoạt động
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
b. Khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc
- “Như hà…”: câu hỏi tu từ
=> Khẳng định
- “nghịch lỗ”: làm điều trái lại ý trời (chỉ quân Tống), phi nghĩa, ngược lại chân lí khách quan.
- “thủ bại hư”: chuốc lấy, nhận lấy thất bại.
=> Hành động của quân Tống là phi nghĩa, không thể chấp nhận, là vi phạm lại ý trời.
=> Giọng điệu dõng dạc, hùng hồn, đanh thép.
=> Thể hiện quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đồng thời răn đe, cảnh bảo trước kẻ xâm lược nếu cố tình xâm phạm sẽ chuốc lấy bại vong.
=> GV bổ sung, chuyển ý: Với lời khẳng định đó, hai câu thơ sau tiếp tục khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ dân tộc. Câu hỏi tu từ “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?” giống như một lời răn đe, cảnh cáo cho những kẻ xâm lược đi xâm lược lãnh thổ là đang làm trái ý trời. Và từ đó, câu thơ cuối cùng vang lên đầy đanh thép. Những kẻ đi xâm lược, cướp nước của dân tộc khác sẽ không có được kết thúc tốt đẹp. Giọng thơ dõng dạc, hùng hồn, đanh thép nhằm thể hiện quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. Câu thơ cuối là một lời khẳng định và cảnh cáo về số phận của những kẻ làm việc sai trái, nhưng đồng thời còn thể hiện sự tự tin vào sức mạnh của dân tộc ta, thể hiện niềm tin vào chiến thắng tất yếu của phe chính nghĩa.
* HDHS tìm hiểu sự thống nhất trong ý thơ
- GV yêu cầu HS:
(1) Theo em, hai dòng thơ đầu và 2 dòng thơ cuối có mối liên hệ như thế nào?
(2) Bài thơ gợi lên trong em những tình cảm, cảm xúc gì?
(3) Theo em, nội dung tư tưởng bài thơ có ý nghĩa như thế nào với thế hệ trẻ ngày nay?
- HS tiếp nhận
- GV tổ chức cho HS làm việc trong thời gian 10 phút
- HS hoạt động
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
c. Mối liên hệ, ý nghĩa và bài học
- Hai dòng thơ đầu và hai dòng thơ cuối có mối quan hệ gắn kết, bổ sung cho nhau.
+ Hai dòng đầu là lời khẳng định chủ quyền của đất nước.
+ Hai dòng cuối là quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộc.
- Bài Sông núi nước Nam gợi lên trong em niềm tự hào, lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ giữ gìn vẻ đẹp và truyền thống quý báu của dân tộc.
- Nội dung bài thơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ ngày nay. Bài thơ là lời nhắc nhở, động viên thế hệ trẻ phải luôn cố gắng phấn đấu, tự hào, mạnh mẽ giữ gìn bản sắc truyền thống văn hóa của dân tộc, xứng đáng với những gì mà thế hệ cha anh đã đổ cả xương máu để giữ gìn và bảo vệ.
III. TỔNG KẾT
* HDHS tổng kết kiến thức
- GV yêu cầu HS khái quát nội dung nghệ thuật của bài và rút ra kĩ năng đọc hiểu thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt
- HS tiếp nhận
- GV tổ chức cho HS làm việc trong thời gian 5 phút
- HS hoạt động nhóm
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá
1. Nghệ thuật
- Thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn và sắc sảo.
- Câu hỏi tu từ, giọng thơ đanh thép, hào hùng và mạnh mẽ.
- Hình ảnh mang tính biểu tượng cao “Nam quốc sơn hà”.
2. Nội dung
- Bài thơ xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta.
- Ngợi ca lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc.
- Thể hiện ý chí, sức mạnh và tinh thần đoàn kết của dân tộc VN.
3. Kĩ năng đọc hiểu thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt
- Nhận biết bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hay chữ quốc ngữ, viết theo thể thơ nào.
- Tìm hiểu chủ đề, bố cục và mỗi quan hệ giữa các câu thơ trong bài.
- Tìm hiểu không gian, thời gian và BPNT đặc sắc được tác giả sử dụng.
HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP (10’)
- GV tổ chức cho HS hoạt động cá nhân hoàn thành PHT sau:
* Bộ câu hỏi:
Câu 1. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” thuốc thể thơ nào?
A. Thất ngôn bát cú B. Thất ngôn tứ tuyệt C. Song thất lục bát D. Lục bát
Câu 2. Ý nào không đúng khi nói về hoàn cảnh ra đời của bài thơ?
A. Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta.
B. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt.
C. Một đêm, quân sĩ nghe từ trong đền thờ anh em Trương Hống – Trương Hát có tiếng ngâm bài thơ “Nam quốc sơn hà.
D. Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
Câu 3. Tại sao tác giả sử dụng từ “đế” chứ không dùng từ “vua”, “vương”?
A. Khẳng định mạnh mẽ quyền của vua Nam với nước Nam sánh ngang hàng với Bắc đế, không phụ thuộc.
B. “đế” là duy nhất, chỉ có 1, toàn quyền, có quyền lực cao nhất, là bá chủ thế giới.
C. Nghĩa giống nhau, dùng thế nào cũng được.
D. Cả ba ý trên đều đúng.
Câu 4. Nội dung chính của bài thơ “Nam quốc sơn hà” là gì?
A. Thể hiện lòng yêu nước, yêu quê hương.
B. Ca ngợi người anh hùng đánh giặc ngoại xâm.
C. Ngợi ca lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, thể hiện ý chí, sức mạnh và tinh thần đoàn kết của dân tộc VN.
D. Cả ba đáp án trên đều đúng.
Câu 5. Đâu là từ Hán Việt trong các từ sau đây:
A. sơn hà B. rạch ròi C. lũ giặc D. nước Nam
Câu 6. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” gợi lên suy nghĩ và cảm xúc gì?
A. Niềm tự hào, lòng yêu nước.
B. Ý chí quyết tâm bảo vệ, giữ gìn truyền thống quý báu của dân tộc.
C. Cả A và B đều đúng
D. Cả A và B đều sai
Câu 7. Theo em, nội dung tư tưởng bài thơ có ý nghĩa như thế nào với thế hệ trẻ ngày nay?
GỢI Ý: Nội dung bài thơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ ngày nay. Bài thơ là lời nhắc nhở, động viên thế hệ trẻ phải luôn cố gắng phấn đấu, tự hào, mạnh mẽ giữ gìn bản sắc truyền thống văn hóa của dân tộc, xứng đáng với những gì mà thế hệ cha anh đã đổ cả xương máu để giữ gìn và bảo vệ.
- HS: Tiếp nhận
- HS làn việc nhóm tại lớp
- GV theo dõi, giúp đỡ HS
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá.
HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG (5’)
- GV yêu cầu HS:
(1) Viết bài văn phân tích bài thơ “Nam quốc sơn hà”?
- HS: Tiếp nhận
- HS làm việc nhóm tại nhà
- GV theo dõi, giúp đỡ HS: Dàn ý:
I. Mở bài: Giới thiệu đôi nét về bài thơ Sông núi nước Nam.
II. Thân bài
1. Lời khẳng định chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, dân tộc
- Câu thơ 1: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (Sông núi nước Nam vua Nam ở)
+ Trong quan niệm của xã hội xưa: toàn bộ diện tích lãnh thổ, của cải vật chất, con người của một đất nước đều thuộc về nhà vua. Người có quyền quyết định tất cả mọi thứ, thậm chí cả quyền sinh sát.
+ “Nam đế”: hoàng đế nước Nam, người đứng đầu của một quốc gia - thể hiện sự ngang hàng với phương Bắc.
- Câu thơ 2: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vành vạch sách trời chia xứ sở)
+ “Thiên thư”: sách trời - Lãnh thổ, địa phận của đất nước đã được ghi tại sách trời.
+ Điều này khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta là một chân lý không thể chối cãi và thay đổi được.
=> Một lời khẳng định đanh thép, bản lĩnh.
2. Sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, dân tộc
- Câu thơ 3: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (Giặc giữ cớ sao xâm phạm đến đây?)
+ Câu hỏi tu từ: “như hà” - “cớ sao?” nhằm khẳng định lại chủ quyền dân tộc.
+ “nghịch lỗ”: khẳng định những kẻ xâm lược đi xâm lược lãnh thổ là đang làm trái ý trời.
- Câu thơ 4: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ): Những kẻ đi xâm lược, cướp nước của dân tộc khác sẽ không có được kết thúc tốt đẹp.
=> Một lần nữa khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
III. Kết bài: Đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
- GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm nhóm.
- HS cử đại diện nhóm báo cáo sản phẩm.
- Nhóm khác chú ý lắng nghe.
- HS nhận xét, bổ sung, đánh giá lẫn nhau
- GV nhận xét, đánh giá.
Bài văn mẫu:
Nhắc đến tuyên ngôn độc lập của đất nước ta thường nghĩ đến bản tuyên ngôn độc lập được Bác đọc tại quảng trường Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 lịch sử. Nhưng trước đó đã có một số tác phẩm mang dấu ấn, tính chất của tuyên ngôn độc lập. Và trong đó không thể không nhắc đến bài thơ thần Nam quốc sơn hà.
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, viết bằng chữ Hán. Bài thơ vốn không có tên. Cái tên “Nam quốc sơn hà” là được những người biên soạn hợp tuyển thơ văn đặt căn cứ vào việc lấy bốn chữ đầu tiên của bài thơ. Bài thơ Nam quốc sơn hà có ít nhất là 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích.
Bài thơ này đầu tiên được ghi vào sách vở là sách Việt điện u linh tập, song bản Nam quốc sơn hà trong Việt điện u linh tập không phải là bản được biết đến nhiều nhất, bản ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư mới là bản được nhiều người biết nhất. Đại Việt sử ký toàn thư được biết đến là bộ chính sử đầu tiên có ghi chép bài thơ này. Nam quốc sơn hà sáng tác năm nào? Phân tích Nam quốc sơn hà, ta thấy bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước. Vào cuối năm 1076, nhà Tống có ý đồ xâm lược Đại Việt. Vua Tống đã cử quân kéo sang xâm lược nước ta. Tuy là nước nhỏ nhưng ta quyết không để mất nước, quân dân đồng lòng cùng chống giặc ngoại xâm.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái uý Lí Thường Kiệt, quân ta đã chặn giặc tại phòng tuyến sông Cầu, đến tháng 3 năm 1077 thì đánh tan quân giặc. Hiện nay về tác giả của bài thơ này vẫn chưa được xác định rõ ràng. Nhưng giả thuyết được nhiều người đồng ý nhất là bài thơ do Lý Thường Kiệt sáng tác. Tương truyền rằng, để khích lệ và động viên ý chí chiến đấu của quân ta cũng để làm tan rã tinh thần quân giặc, Lí Thường Kiệt đã cho đọc bài thơ giữa đêm khuya trên bờ sông Cầu.
Lời thơ ngân vang khắp cả đất trời khiến cho nghĩa quân tin rằng trời đất ủng hộ cuộc kháng chiến và đây là một dấu hiệu tốt, lòng dân được củng cố thanh thế sĩ khí ngày càng tăng. Lý Thường Kiệt thừa cơ hội đó liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến chủ động tấn công đánh thẳng vào trại giặc. Phần vì yếu tố bất ngờ, phần vì tinh thần chiến đấu của quân Việt đang dâng lên cao, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã quá nửa. Quân Tống đại bại. Lý Thường Kiệt nhìn trước thời cuộc nên không tiếp tục tấn công mà liền cho người sang nghị hoà, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giành lại giang sơn, giữ vững bờ cõi Đại Việt.
Khẳng định chủ quyền đất nước, phân định rõ ràng về lãnh thổ là những ý chính trong câu thơ đầu tiên của người anh hùng Lý Thường Kiệt. Mở đầu bài thơ là câu thơ đanh thép khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
(Sông núi nước Nam, vua Nam ở)
“Nam quốc” ở đây ý chỉ nước Nam, với mục đích xác định rõ ràng ranh giới đất nước. Việc xưng “Nam quốc” đã thể hiện rõ ràng kiên định lập trường về đất nước. Bởi lẽ một ngàn Bắc Thuộc tuy đã kết thúc khi Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng nhưng nhà nước Trung Hoa vẫn chỉ xem nước ta là một quận Giao Chỉ thuộc Trung Hoa. Vì vậy việc khẳng định “Nam quốc” mang một ý nghĩa đặc biệt. Câu thơ ngắt nhịp 4/3, tách thành hai vế “sông núi nước Nam”, “vua Nam ở”. Đây là hai vế có mối quan hệ mật thiết gắn bó. Ý thức về không gian lãnh thổ đất nước quan trọng nhưng việc xác định quyền làm chủ đối với lãnh thổ ấy còn quan trọng hơn gấp bội. Tương xứng với “Nam quốc” đó chính là “Nam đế”. Trong quan niệm của Trung Hoa của có duy nhất vua của Trung Hoa mới xứng là hoàng đế, là thiên tử còn những nước khác chỉ dám xưng vương, chư hầu không có nước nhỏ nào dám xưng đế ngang hàng với Trung Hoa. Duy chỉ có nước ta đã khẳng định mạnh mẽ ta và Trung Hoa đều là những nước độc lập có quyền bình đẳng như nhau. Và nước Nam là thuộc chủ quyền của người nước Nam mà đại diện đứng đầu là vua Nam.
Trong một dòng thơ ngắn nhưng hai từ “Nam” xuất hiện không chỉ tạo nhịp điệu cho câu thơ mà còn khẳng định ý thức chủ quyền mạnh mẽ. Phân tích Nam quốc sơn hà, ta thấy nếu so với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi – xác định chủ quyền trên nhiều phương diện hơn.
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Còn trong bài thơ “thần” này tuy chỉ mới xác định và khẳng định chủ quyền đối với lãnh thổ chưa toàn diện nhưng điều đó không làm giảm đi ý nghĩa của bài thơ. Cơ sở xác định chủ quyền dân tộc qua câu thứ thứ hai. Để xác định chủ quyền đất nước, Lý Thường Kiệt đã đưa ra những căn cứ:
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.”
(Biên giới rõ ràng có ghi tại sách trời)
“Tiệt nhiên” là rành rành, rõ ràng, có đạo lí chính đáng không ai có thể thay đổi hay chối cãi được. Còn “định phận” là xác định các phần. Và trong trường hợp này “phận” ở đây chính là chủ quyền lãnh thổ đất nước thiêng liêng. Nếu đối với Nguyễn Trãi ông xác định căn cứ vào lịch sử thì Lý Thường Kiệt lại căn cứ vào thiên thư. Chủ quyền của vua Nam đối với đất nước là việc có ghi sẵn trong sách trời. “Thiên thư” chính là sách trời, chính sách trời đã định phận cho nước Nam có bờ cõi riêng. Như một định luật, một điều hiển nhiên về chủ quyền đất nước không thể chối cãi.
Nếu ở câu đầu đưa ra lời khẳng định thì ở câu thơ sau là lời chứng minh. Tuy cơ sở chứng minh, xác định có phần mang tính duy tâm nhưng cần nhìn nhận lại bối cảnh lịch sử đương thời để hiểu rõ hơn. Người xưa cho rằng vạn vật hữu linh và cuộc sống con người là do bàn tay tạo hóa sắp đặt. Con người không được vượt quyền tạo hóa, bởi vậy mà hành động xâm phạm biên giới của nước khác không chỉ là sự xúc phạm đối với đất nước đó mà còn là sự xúc phạm đến thần linh. Chính vì đất nước của vua nam chính vì điều đó đã được xác định rõ ràng nên cuộc xâm lăng của giặc đã phạm vào định phận của đất trời nên chắc chắn sẽ thất bại.
Lời khẳng định đanh thép và bày tỏ sự căm giận quân giặc sâu sắc. Ta thấy từ việc khẳng định chủ quyền đất nước, ông đã đi đến lời kết án và khẳng định đanh thép về ý chí quyết tâm chống giặc của con dân Đại Việt.
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?”
(Sao mà bọn giặc lại tới xâm phạm?)
“Như hà” có ý nghĩa là làm sao, “nghịch” nghĩa là trái ngược, “lỗ” là bọn mọi rợ. Ở đây “lỗ” ý chỉ bọn giặc ngoại xâm. Chúng chẳng khác nào giống mọi rợ khi xâm lược lãnh thổ nước ta. Không chỉ xâm lăng đe dọa nền hòa bình độc lập của dân tộc mà chúng còn giày xéo đất đai khiến nhân dân phải chịu nhiều khổ đau, nước mắt căm hờn cứ thế mà chảy dài khắp cả đất nước.
Đây là một câu hỏi tu từ vừa bao hàm thái độ ngạc nhiên vừa lại khinh bỉ. Ngạc nhiên là bởi lẽ tại sao thiên triều, kể vốn xưng là con trời – thiên tử lại dám làm trái ý trời, can thiệp vào sự xoay vần của con tạo. Khinh bỉ là vì một nước vốn cho mình có vị thế cao hơn những nước khác lại ỷ mạnh ăn hiếp yếu, xâm chiếm lãnh thổ của nước nhỏ hơn trong khi nước ta vẫn cống nạp giữ gìn tình bang giao. Chính vì vậy việc ta bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước là việc làm chính nghĩa hợp lòng dân thuận theo ý trời nên ta chiến đấu với một tâm thế vững vàng. Ta bảo vệ giang sơn đất nước tổ tiên bao đời gây dựng, ta bảo vệ cuộc sống của những người dân nghèo, ta bảo vệ chính nghĩa…
Đối ngược là giặc ngoại xâm, chúng xâm lăng với mục đích không chính đáng vì vậy đây là cuộc xâm lược phi nghĩa nhằm thỏa mãn nhu cầu quyền lực, tham vọng bá chủ. Chúng đã gây ra bao tội ác trời không dung đất không tha. Chính vì dã tâm của giặc và ta là người nắm trong tay lẽ phải nên giọng thơ dõng dạc, hào sảng. Phân tích Nam quốc sơn hà sẽ thấy nhà thơ đã ý thức rõ tâm thế và mục đích của hai cuộc chiến nên ông đã có những lời thơ mạnh mẽ hào hùng.
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”
(Lũ bây hãy xem sẽ ôm lấy thất bại)
“Nhữ đẳng” là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai có nghĩa một lũ bây, “khan” là một cách đọc khác của khán là xem. Còn “thủ” là nhận lấy, “bại” là thua, “hư” mang ý nghĩa là không vào đâu cả. Câu thơ cuối đã khẳng định một cách chắc chắn về kết quả cuộc chiến. Kết quả đó không phải là một chuyện viển vông cũng chẳng phải một ảo tưởng mà đó là sự đúc kết từ nhiều yếu tố.
Đó là từ mục đích của cuộc chiến, từ yếu tố chính nghĩa của kháng chiến và cũng từ truyền thống thống chống giặc ngoại xâm bất khuất của dân tộc ta. Quân ta có thể ít về số lượng, không có vũ khí chiến đấu có thể đây là một cuộc chiến không cân sức, tương quan chênh lệch lực lượng sâu sắc nhưng quan trọng nhất đó chính là ngọn cờ chính nghĩa đã thuộc về phe ta. Còn bởi tình yêu nước nồng nàn sâu lắng của mỗi con dân đất Việt kết nối lại tạo thành một nguồn sức mạnh khổng lồ giúp nước ta có thể chiến thắng trước bao cuộc chiến xâm lược phi nghĩa của quân bất nghĩa phương Bắc. Giặc phương Bắc không thấu tình đạt lí thông hiểu lẽ trời mà bị sự tham làm làm cho mờ mắt. Chúng đến xâm lược phi nghĩa thì kết quả sẽ là tay trắng ra về, nhục nhã ê chề trong thất bại mà quay về nước.
Bài thơ đã khẳng định chủ quyền cũng như ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của đất nước ta. Truyền thống lịch sử đã xác lập một chân lý dân tộc ta từ bao đời luôn đứng trên chính nghĩa, nắm trong tay lẽ phải để chống lại mọi cuộc chiến ngoại xâm. Mục đích ấy và truyền thống hào hùng ấy đã được nối tiếp từ bao đời để luôn giữ vững hòa bình dân tộc. Sau này không chỉ là giặc xâm lược phương Bắc mà còn là thực dân Pháp, Nhật, Mĩ. Cuộc chiến ngày một khốc liệt hơn nhưng kết quả chiến thắng vẫn thuộc về ta vì ta chiến đấu để bảo vệ non sông gấm vóc. Giọng điệu đanh thép, hào hùng ấy sẽ mãi ngân vang. Xuyên suốt cả bài thơ không một chút run sợ trước sức mạnh của Bắc triều mà luôn giữ vững một niềm tin chiến thắng.
Ta cũng bắt gặp tâm thế ấy trong Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ,… Tuy nếu xét về phương diện hoàn chỉnh có thể bài thơ chưa có cái nhìn bao quát về các phương diện chưa chỉ rõ tội ác của giặc nhưng tính chất và giọng điệu của bài thơ sẽ mãi khắc ghi vang vọng cùng non sông. Chỉ với vỏn vẹn hai mươi tám từ ngắn gọn cô đúc nhưng bài thơ đã truyền tải được một ý chí một sức mạnh lớn lao phi thường về ý thức chủ quyền lãnh thổ, về tinh thần quật cường của dân tộc ta. Bài thơ khép lại nhưng những tư tưởng ấy vẫn còn mãi cùng thời gian. Đó chính là sức sống của tác phẩm…
* HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
- Xem lại kiến thức, ghi nhớ bài học.
- Hoàn thành các nhiệm vụ học tập được GV giao.
- Chuẩn bị bài mới: Đọc hiểu văn bản “Khóc Dương Khuê”
=====================&===================
Đọc – hiểu văn bản: KHÓC DƯƠNG KHUÊ
A. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Nhận diện được thể loại của văn bản.
- Nhận diện và phân tích được các nét khái quát về tác giả Nguyễn Khuyến.
- Xác định và phân tích được bố cục của văn bản.
- Tìm hiểu một số yếu tố thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong bài thơ
- Tìm hiểu nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật trữ tình (NK) qua âm hưởng da diết của bài thơ song thất lục bát.
- Tìm hiểu một số nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm
- Viết bài văn phân tích được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong văn bản.
2. Năng lực
a. Năng lực chung
- Năng lực tự chủ và tự học: Biết chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập.
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm; đánh giá được khả năng của mình và tự nhận công việc phù hợp với bản thân.
b. Năng lực riêng biệt
- Năng lực nhận diện và thu thập thông tin liên quan đến văn bản.
- Năng lực trình bày, suy nghĩ, cảm nhận cá nhân về văn bản.
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành tựu nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của văn bản.
- Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm nghệ thuật của văn bản với các tác phẩm có cùng chủ đề.
3. Phẩm chất
- HS rèn luyện thái độ trân trọng tình cảm bạn bè trong sáng, cao đẹp.
B. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Chuẩn bị của GV
- KHBD.
- Sách giáo khoa, phiếu học tập
- Bảng giao nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp, ở nhà.
2. Chuẩn bị của HS
- SGK, SBT Ngữ văn 9 Cánh diều.
- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi.
C. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
A. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: Tạo tâm thế, tạo hứng thú cho HS sẵn sàng tìm hiểu kiến thức bài học.
b. Nội dung: GV đặt cho HS những câu hỏi gợi mở vấn đề
c. Sản phẩm: Nhận thức và thái độ học tập của HS
d. Tổ chức thực hiện
- GV đặt câu hỏi: Hãy giới thiệu và chia sẻ với mọi người về kỉ niệm đáng nhớ nhất của em cùng người bạn thân thiết của mình.
- HS nhận nhiệm vụ, chia sẻ
- GV chốt kiến thức, dẫn dắt vào bài học: Bên cạnh những vần thơ viết về làng cảnh Bắc Bộ thì Nguyễn Khuyến còn là nhà thơ chuyên viết về tình bạn thân thiết như “Bạn đến chơi nhà”, “Khóc Dương Khuê”,… Bài thơ “Khóc Dương Khuê” được viết khi nhà thơ hay tin Dương Khuê – bạn đồng khoa với ông qua đời. Bài thơ thể hiện tình bạn thủy chung chân thành của Nguyễn Khuyến.
B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động 1: Đọc. tìm hiểu chung văn bản
a.Mục tiêu:
- Nắm được cách đọc VB
- Nắm được những thông tin về tác giả, tác phẩm.
- Xác định được bố cục của văn bản.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời câu hỏi.
c. Sản phẩm: HS đọc VB, tiếp thu kiến thức và câu trả lời của HS.
d. Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
1.Đọc
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
- GV tổ chức cho HS đọc VB
+ Yêu cầu hs nêu cách đọc
+ Yêu cầu HS phát biểu cảm nhận chung về VB
+ Trong VB, từ nào em còn băn khoăn,chưa hiểu rõ nghĩa?
Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực hiện nhiệm vụ
- GV gọi một số HS đọc
* HS đọc VB.
- GV nhận xét, đọc mẫu lại một lần và yêu cầu HS phát biểu cảm nhận chung về VB.
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận
* HS đọc VB.
- GV nhận xét, đọc mẫu lại một lần và yêu cầu HS phát biểu cảm nhận chung về VB
* HS chia sẻ cảm nhận chung về VB (có thể chia sẻ cảm nhận về mạch cảm xúc, cảm hứng chủ đạo, giọng điệu hay hệ thống hình ảnh của bài thơ).
* HS chỉ ra một số từ chưa hiểu rõ nghĩa. HS/GV giúp đỡ giải đáp thắc mắc.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
- GV nhận xét và chốt kiến thức
onthicaptoc.com GA Ngu van 9 Canh dieu Bai 1 THO VA THO SONG THAT LUC BAT
Năm học 2023 – 2024
I. Kế hoạch dạy học
MÔN HỌC: NGỮ VĂN 9 – BỘ SÁCH KNTT VỚI CUỘC SỐNG
(Năm học 2024 - 2025)
THỰC: HÀNH TIẾNG VIỆT (TIẾT 1)
NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG TÊN VIẾT TẮT CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ QUAN TRỌNG
VĂN HỌC LỚP 9
PHẦN VĂN NGHỊ LUẬN TẬP LÀM VĂN LỚP 9
Tên sách: Ngữ văn 9 (Bộ Chân trời sáng tạo – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Thành Thi (đồng Chủ biên)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này, HS vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học trong bài học để thực hiện các nhiệm vụ ôn tập.
Ngày giảng:
ÔN TẬP HỌC KÌ I