MỤC LỤC BỘ TÀI LIỆU BỒI GIỎI NGỮ VĂN 7
STT
NỘI DUNG
TRANG
1
Chuyên đề 1: Cảm thụ các tác phẩm văn học
- Hướng dẫn cách làm bài cảm thụ
- 45 bài cảm thụ tác phẩm văn học hay
2
38
2
Chuyên đề 2: Nghị luận xã hội
- Dạng 1: Nghị luận về tư tưởng đạo lí
- Dạng 2: Nghị luận về hiện tượng sự việc trong đời sống
( 25 đề nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống, nghị luận tư tưởng đạo lí, một quan điểm, nhận định văn học)
- Dạng 3: Nghị luận về câu chuyện ( 50 đề nghị luận về câu chuyện có hướng dẫn cách làm bài chi tiết)
- Dạng 4: Nghị luận về bức tranh (20 đề)
44
48
97
167
210
3
Chuyên đề 3: Kĩ năng làm bài kể về một sự việc có thật có liên quan đến sự kiện lịch sử
211
213
4
Chuyên đề 4: Rèn kĩ năng làm văn biểu cảm
- Biểu cảm về sự vật con người
- Biểu cảm về tác phẩm văn học
- Kĩ năng viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật
214
223
231
5
Chuyên đề 5: Rèn kĩ năng thuyết minh thuật lại một sự kiện
+ Các dạng làm bài văn thuyết minh
- Dạng 1: Thuyết minh thuật lại một sự kiện trong cuộc sống.
- Dạng 2: Thuyết minh thuật lại một lễ hội dân gian.
- Dạng 3: Thuyết minh về một sự kiện lịch sử
- Dạng 4: Thuyết minh về một phương pháp cách làm
- Dạng 5: Thuyết minh về tác phẩm văn học
- Dạng 6: Thuyết minh về một thể loại văn học
- Kĩ năng viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về tác giả tác phẩm ( 24 đoạn văn mẫu của cả 3 bộ sách)
232
252
262
6
- Chuyên đề 6: Cách làm bài văn nghị luận bàn về ý kiến văn học mang tính lí luận VH
264
266
7
Chuyên đề 7: Kĩ năng làm bài đọc Hiểu
- Mẹo làm bài đọc hiểu, nghị luận xã hôi, nghị luận văn học.
- Công thức viết phần mở bài cho bài nghị luận văn học và bài nghị luận xã hội
267
280
8
Chuyên đề 8: Tổng hợp các đề thi ( 73 Đề thi mới nhất 8 câu trắc nghiệm 2 câu tự luận kết hơpk phần viết ngữ liệu hoàn toàn ngoài chương trình.
281
593
9
Một số bài văn mẫu hay văn nghị luận VH
( 23 đề nghị luận hay)
594
673
CHUYÊN ĐỀ 1: CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
A. Mức độ cần đạt:
- Các biện pháp tu từ và các tín hiệu nghệ thuật ngôn từ trong các đoạn văn, thơ tiêu biểu
- Cách phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ trong một đoạn văn, đoạn thơ
- Bố cục của bài văn cảm thụ văn học
- Cách viết một bài văn cảm thụ văn học khoảng 300 từ.(1 trang)
B. Chuẩn bị:
- GV: Đọc tài liệu tham khảo, soạn giáo án chi tiết
- HS: Học và làm các bài tập theo yêu cầu cụ thể của GV
C. Nội dung chuyên đề:
I. PHƯƠNG PHÁP LÀM VĂN CẢM THỤ
1. Cảm thụ thơ văn là gì?
- Trước hết, cảm thụ văn học chính là đi tìm vẻ đẹp, cái hay của những bài thơ, bài văn..
- Là cảm nhận và đánh giá được cái hay cái đẹp của văn bản đó. Biết dùng ngôn từ diễn tả giúp người nghe đồng cảm với mình khi nghe bài thơ văn đó.
2. Cảm thụ những gì?
a. Phát hiện và chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ văn đó. Có thể là: So sánh nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, tương phản, đối, cách sử dụng từ láy, động từ mạnh, câu tồn tại, câu đặc biệt…
b. Nêu nội dung của văn bản đó và việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật đó làm cho nội dung trở nên hay hơn như thế nào. Nếu là nhân hoá thì cảnh vật trở nên có hồn, sinh động hơn, nếu so sánh thì cảnh vật trở nên cụ thêt gợi cảm, gợi hình.
c. Đoạn thơ đó viết bằng thể thơ gì? Lục bát hay thơ tự do. Thể lục bát thường nhẹ nhàng uyển chuyển, truyền cảm thấm thía, dễ đi vào lòng người. Thể thơ tự do dễ bộc lộ mạch cảm xúc của tác giả. Thơ 5 chữ thích hợp cho nội dung ngợi ca, hoặc kể chuyện. Thể thơ 4 chữ giản dị, gần gũi với những bài hát đồng dao.
d. Nhịp điệu của bài thơ như thế nào?
+ Lục bát thường là 3/3,4/4 hoặc 2/2/2và 2/2/4, 4/2/2 khiến âm điệu thơ du dương
+ Thơ thất ngôn nhịp 4/3 âm điệu khoẻ khoắn, sảng khoái bộc lộ những nỗi niềm, cảm xúc sâu lắng, mạnh mẽ. Nếu nhịp thơ ngắn thì thường gợi tả những hành động nhanh mạnh, nếu nhịp thơ dài thì có khả năng diễn tả những cảm xúc tình cảm xao xuyến, dàn trải thiết tha.
3.Các bước cảm thụ: Gồm 4 bước
- Đọc kĩ bài (đoạn) văn thơ, phát hiện chủ đề, biện pháp, dấu hiệu nghệ thuật.
- Chỉ ra biện pháp, dấu hiệu nghệ thuật đó
+ Các biện pháp tu từ
+ Cách sử dụng từ láy tượng hình, tượng thanh, tính từ, từ ngữ gợi tả màu sắc, âm thanh, ánh sáng, tâm trạng.
+ Đặc biệt chú ý tìm và phân tích giá trị của từ “đắt”.
- Phân tích tác dụng của biện pháp, dấu hiệu nghệ thuật để bật lên nội dung, chủ đề của (đoạn) văn thơ đó
- Nêu những suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá, liên tưởng của mình về những điều (đoạn) văn thơ đó gợi ra
II. Một số nghệ thuật trong thơ cảm thụ
1. Nghệ thuật đối lập, tác dụng.
Ví dụ: “Quạt nan như lá
Chớp chớp lay lay
Quạt nan mỏng dính
Quạt gió rất dầy
Gió từ ngọn cây
Có khi còn nghỉ
Gió từ tay mẹ
Thổi suốt dêm ngày”
(Gió từ tay mẹ - Vương Trọng)
Gợi ý: Tìm biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ? Tác dụng của nó?
- Trong đoạn thơ trên có hâi sự vật được nói đến “quạt nan” “quạt gió” tương phản nhau. Hâi hình ảnh “gió từ ngọn cây” “gió từ tay mẹ” đối lập với nhau.
Tác dụng: Nhằm ca ngợi người mẹ có tình yêu thương con bao la như biển cả.
Mẹ đã hi sinh cả đời mẹ cho con. Thức khuya dậy sớm tần tảo nuôi con, chăm sóc cho con từng miếng ăn, giấc ngủ. Gió của trời đất thiên nhiên có khi còn nghỉ, nhưng ngọn gió từ bàn tay mẹ thổi suốt đêm ngày vì đó là ngọn gió của tình yêu thương. Đoạn thơ thể hiện sự trân trọng kính yêu người mẹ yêu dấu của mình.
Hướng dẫn trình tự cảm thụ:
a. Mở đoạn
- Cảm xúc chung về người mẹ
Trong cội nguồn tình cảm gia đình thì tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và cao đẹp hơn cả. Mẹ là người mà em yêu quý nhất. Em càng yêu quí xúc động và kính yêu người mẹ của mình hơn khi đọc đoạn thơ:
b. Thân đoạn
- Phân tích nghệ thuật và nội dung phải lồng cảm xúc yêu kính thầm
cám ơn mẹ, trân trọng mẹ.
c. Kết đoạn:
- Cảm ơn tác giả đã gieo vào lòng ta những dòng thơ hay biết bao cảm
xúc dạt dào.
- Đọc đoạn thơ em càng thêm yêu kính mẹ của mình hơn, người mẹ
vô cùng kính yêu đã hi sinh suốt đời vì đứa con thân yêu.
2. Nghệ thuật nhân hóa
Ví dụ:
“Cỏ gà rung tai
Nghe
Bụi tre
Tần ngần gỡ tóc
Hàng bưởi
đu đưa
Bế lũ con
Đầu tròn
Trọc lốc”
(Mưa- Trần Đăng Khoa)
Tìm biện pháp nghệ thuật và tác dụng của nó trong đoạn thơ?
- Nghệ thuật: tác giả đã sử dụng thành công và dặc sắc nghệ thuật nhân hóa làm cho cảnh vật thiên nhiên sinh động gần gũi và giống như con người. Tác giả đã quan sát tinh tế dòng thơ ngắn, xuống dòng đột ngột tạo ra âm thanh nhịp điệu rất đỗi quen thuộc của cảnh vật tự nhiên trong trận mưa rào.
3. Nghệ thuật so sánh
Ví dụ: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.”
(Cảnh khuya- Hồ Chí Minh)
Tìm biện pháp nghệ thuật và tác dụng của nó trong đoạn thơ?
- Nghệ thuật: Tác giả đã sử dụng thành công và đặc sắc nghệ thuật so sánh: tiếng suối được ví như tiếng hát làm cho âm thanh của tiếng suối trong đêm thanh tĩnh thêm gần gũi, sống động và thẫm đẫm tình người. Cảnh vật thiên nhiên không hoang sơ mà tràn đầy sức sống.
4. Liệt kê hình ảnh:
Ví dụ 1: ‘Em yêu màu vàng
Lúa đồng chín rộ
Hoa cúc mùa thu
Nắng trời rực rỡ’
(Sắc màu em yêu)
Tìm biện pháp nghệ thuật và tác dụng của nó trong đoạn thơ?
- Nghệ thuật: Hàng loạt các hình ảnh liệt kê: hoa cúc, lúa vàng, nắng trời và cách dùng dấu phẩy tạo nên nhịp điệu nhẹ nhàng thể hiện cảnh vật mùa thu rất đẹp dịu dàng thơ mộng và tình yêu thiên nhiên bao la của tác giả.
Ví dụ 2:
“Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…”
* Tác giả dùng phép liệt kê để nêu lên các vị anh hùng của dân tộc ta qua các thời đại. Dùng dấu phẩy, dấu chấm lửng nhằm ca ngợi truyền thống bất khuất của những người anh hùng dân tộc qua các thế hệ. Đọc đoạn văn trong lòng em trỗi dậy niềm tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc và biết ơn cac vị anh hùng dân tộc.
5. Phép đảo ngữ:
VD: “Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
(Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan)
- Nghệ thuật: Phép đảo ngữ nhấn mạnh sự thưa thớt ít ỏi, thiếu vắng sự sống nơi Đèo Ngang hoang sơ, sự ít ỏi của con người nơi xóm núi hiu quạnh.
6. Phép tăng cấp
VD: Mưa rả rích dêm ngà. Mưa tối tăm mặt mũi. Mưa thối đất, thối cát. Trận này chưa qua, trận khác đã tới, ráo riết, hung tợn hơn. Tưởng như biến có nhiêu nước trời hút hết lên đổ xuống đất liền.
- Nghệ thuật: Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ tăng cấp để nêu bật sự dữ dội ngày càng hung dữ hơn của cơn mưa mùa hạ.
7. Sóng đôi
Ví dụ: “Từ xa nhìn lại cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bông hoa gạo là hàng ngàn ngọn lửa hồng. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến trong xanh. Tất cả đều lung linh trong nắng.”
- Tác giả dùng biện pháp sóng đôi và so sánh để nhấn mạnh vẻ đẹp của mùa hoa nở. Cảnh đẹp rực rỡ lung linh sắc màu tràn đầy sức sống.
8. Lặp từ ngữ
Ví dụ: “Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
(Viếng lăng Bác- Viễn Phương)
- Nghệ thuật: Điệp ngữ muốn làm được nhắc đi nhắc lại ba lần nhằm tạo nhịp điệu cho câu thơ đồng thời thể hiện mong muốn, ước nguyện chân thành tha thiết của tác gỉa rmuốn hóa thân vào những sự vật bên lăng Bác được luôn bên Bác để canh giữ giấc ngủ cho người.
9. Câu hỏi tu từ
Ví dụ: “Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ”
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
- Nghệ thuật: Câu hỏi tu từ. Hổi không phải trả lời nhằm nhấn mạnh sự tiếc nuối, cảm thương của tác giả đối với một lớp người đã tàn tạ, bị xã hội lãng quên. Câu thơ như một nén nhang tươmgr niệm ông đồ - lớp người nho học xưa một thời được trọng vọng nay đã bị vất ra khỏi lề của cuộc sống.
III. Cách trình bày bài văn cảm thụ về bài (đoạn) văn thơ.
a. Mở bài: Dẫn dắt từ chủ đề
Giới thiệu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tên tác giả và cảm nhận chính của bản thân về bài (đoạn) văn thơ.
b. Thân bài:
- Lần lượt phát hiện các biện pháp nghệ thuật, dấu hiệu nghệ thuật trong bài (đoạn) văn thơ và phân tích giá trị của các biện pháp nghệ thuật, dấu hiệu nghệ thuật để làm bật lên ý nghĩa, nội dung, tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm trong đó
- Nêu những suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá của mình về những điều mà câu thơ, ý thơ gợi lên.
- Liên hệ với những ý thơ (văn) có cùng chủ đề hoặc cùng biện pháp nghệ thuật
c. Kết bài:
- Đánh giá khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài bao trùm bài thơ.
- Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài (đoạn) thơ, văn trong tâm hồn người đọc.
* Chú ý: Không nhất thiết là dấu hiệu, BPTT nào xuất hiện trước thì phải chủ ra và phân tích trước. Cần có sự uyển chuyển, linh hoạt để tạo ra được lối viết hấp dẫn nhất tùy theo từng bài, đoạn thơ văn cụ thể. Cũng có khi có thể lồng một vài biện pháp vào nhau để chỉ ra nội dung, ý nghĩa ẩn trong đó.
IV. LUYỆN TẬP:
Đề 1: Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
(Trần Quốc Minh)
- Chủ đề: Tình mẹ
- Biện pháp nghệ thuật: so sánh
- Tác dụng: So sánh thứ nhất là: “Những ngôi sao thức- chẳng bằng - mẹ”. Phép so sánh diễn tả sự hi sinh to lớn của những người mẹ. Những ngôi sao có thể thức thâu đêm nhưng mẹ có thể thức nhiều đêm, thức cả cuộc đời để lo lắng cho các con.
So sánh thứ hai: “Mẹ- là- ngọn gió”. Phép so sánh biểu lộ niềm kính yêu, lòng biết ơn sâu nặng của con đối với mẹ. Đối với con, người mẹ luôn là ngọn gió mát lành, đêm đến cho con giấc ngủ say nồng, đêm đến cho con sự bình yên, hạnh phúc.
*Liên hệ: Lời bài hát “Bàn tay mẹ”
Bàn tay mẹ, bế chúng con. Bàn tay mẹ, chăm chúng con. Cơm con ăn, tay mẹ nấu. Nước con uống, tay mẹ đun. Trời nóng bức gió từ tay mẹ. Con ngủ ngon, trời giá rét cũng bàn tay mẹ ủ ấm con…”
Với thể thơ lục bát mang âm điệu nhẹ nhàngnhư những ời ru, nhà thơ cho em cảm nhận sâu sắc hơn về tình mẹ, thấu hiểu và biết ơn người sinh ra mình.
Đề 2: Trình bày cảm nhận của em về bài ca dao sau
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Gợi ý làm bài:
Đây là bài ca dao về chủ đề gia đình, là bài ca dao nói về công lao của cha mẹ và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ
Bài ca dao làm theo thể thơ lục bát với nhiều biện pháp nghệ thuật phong phú: biện pháp so sánh chính xác, giàu ý nghĩa
Hai câu ca đầu nói về công lao sinh thành dưỡng dục như trời biển của cha mẹ
“Công cha” được so sánh với “núi Thái Sơn”. Núi Thái Sơn là ngọn núi cao ngất, là biểu tượng cho sự vững chãi, uy nghi. Hình ảnh so sánh gợi lên hình ảnh người cha – trụ cột của gia đình, là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời con, là người chở che cho con suốt thời thơ ấu. Bởi “con có cha như nhà có nóc”
“Nghĩa mẹ” được so sánh với “nước trong nguồn”. Nước trong nguồn trong vắt, ngọt ngào, không bao giờ vơi cạn. Phép so sánh gợi lên tình mẹ bao dung, dịu hiền, vô tận. Con lớn lên từ dòng sữa ngọt ngào, từ lời ru dịu êm, sự vỗ về yêu thương của mẹ. Người mẹ cả đời hi sinh vì những đứa con yêu. “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào
Câu thơ thứ 3,4 khuyên con cái phải biết giữ tròn đạo hiếu. “Thờ mẹ” là tôn thờ ngưỡng vọng về mẹ. “Kính cha” là kính trọng, biết ơn cha, luôn lắng nghe lời dậy bảo ân cần của cha Biết thông cảm, sẻ chia với những khó khăn, vất vả của cha mẹ; phụng dưỡng cha mẹ lúc già yếu. Đó là lời khuyên nhủ ân cần, sâu sắc mà mỗi người làm phận con cần khắc ghi.
Bài ca dao mang âm hưởng ngọt ngào như lời mẹ hát ru con. Bài ca cho ta thấm thía hơn công cha, nghĩa mẹ đồng thời gợi lên trong lòng mỗi người tình cảm yêu thương, biết ơn bậc sinh thành
Đề 3: Cảm nhận của em về bài thơ sau:
Hôm nay trời nắng như nung
Mẹ em đi cấy phơi lưng cả ngày
Ước gì em hoá thành mây
Em che cho mẹ suốt ngày bóng râm
(Đi cấy, Trần Đăng Khoa)
*Gợi ý làm bài
Bài thơ “Đi cấy” của Trần Đăng Khoa được in trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời”. Đây là tập thơ đầu tay của thần đồng thơ ca. Bài thơ viết về tình cảm yêu thương của đứa con giành cho mẹ qua cảm nghĩ và tâm hồn của một đứa trẻ.
Hai câu thơ đầu tái hiện hình ảnh người mẹ đi cấy lúa trên đồng. Phép so sánh : “trời nắng như nung” gợi lên thời tiết khắc nghiệt. “Nóng như nung” là rất nóng, nóng như lửa đốt. Phép so sánh cho người đọc cảm nhận được cái nóng tháng sáu như thiêu, như đốt, như đổ lửa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ý thơ gợi nhắc đến những câu thơ trong bài “Hạt gạo làng ta”:
“Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy”
Trong thời tiết khắc nghiệt ấy, để kịp thời vụ “mẹ em” vẫn phải phơi lưng cả ngày ngoài đồng. Nhà thơ cho ta hình dung ra hình ảnh người mẹ vất vả, lam lũ, dầu dãi nắng mưa của Trần Đăng Khoa cũng là hình ảnh của mẹ em, bà em trong những ngày mùa đi cấy.
Thấy mẹ vất vả như vậy, cậu bé Khoa ao ước: “Ước gì… bóng râm”
Đó là ước muốn thật ngây thơ và đẹp đẽ. Ngây thơ bởi chỉ có tre con mới ước được hóa thành mây. Đẹp đẽ bởi đã thể hiện được tình yêu thương mẹ, thấu hiểu nỗi vất vả của mẹ, mong mình làm được điều gì đó để vơi đi những nhọc nhằn nơi mẹ. Điều ấy cho thấy Khoa là một đứa con ngoan ngoãn, hiếu thảo. Người mẹ hẳn sẽ mát lòng khi có một đứa con ngoan. Dù con chẳng thể hóa thành mây che nắng cho mẹ nhưng tấm lòng con như làn gió mát, như áng mây lành xua tan bao cực nhọc trên đôi vai mẹ.
Với thể thơ lục bát mang âm hưởng ngọt ngào như những lời ru, bài thơ khiến người đọc xúc động về tấm lòng của đứa con ngoan đối với người mẹ tảo tần. Nhà thơ cho em hiểu thêm nỗi vất vả của mẹ, thấy mình cần phải ngoan hơn, thương mẹ nhiều hơn nữa.
Đề 4: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau
Những chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
Cô Gió chăn mây trên đồng
Bác Mặt Trời đạp xe qua đỉnh núi
(Em kể chuyện này, 1968- Trần Đăng Khoa)
*Gợi ý làm bài
- Nội dung đoạn thơ: tả cảnh thiên nhiên làng quê vào một ngày đẹp trời
- Biện pháp nghệ thuật nhân hoá: các sự vật, hiện tượng được gọi tên, được miêu tả như con người.
- Tác dụng: Khiến sự vật, hiện tượng ấy trở nên sống động, gần gũi như thế giới con người.
Giúp người đọc cảm nhận được dường như cả thế giới thiên nhiên, tạo vật đang hoạt động, đang tràn đầy sức sống
- Qua đó cho thấy nhà thơ là người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, trí tưởng tượng bay bổng và có tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc đời.
Bài tham khảo.
Trần Đăng Khoa sinh ra ở một làng quê miền đồng bằng Bắc Bộ. Thiên nhiên nơi đây đã nuôi dưỡng tâm hồn Khoa. Và thiên nhiên đã bước vào thơ Trần Đăng Khoa thật nhẹ nhàng mà thật sinh động. Bài thơ “Em kể chuyện này “là một trong những bài thơ vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời của cảnh đẹp quê hương.
Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng rất hiệu quả biện pháp nhân hoá.
Những chị lúa phất phơ bím tóc
…
Bác Mặt trời đạp xe qua đỉnh núi
Các sự vật được gọi và tả bằng những từ ngữ vốn dụng để gọi người: Chị lúa, cậu tre, cô gió, bác Mặt Trời. Những từ ngữ vốn miêu tả hoạt động của con người: bá vai nhau thì thầm đứng học, đàn cò áo trắng, khiêng nắng, đạp xe. Phép nhân hóa cho em cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên làng quê vào một ngày đẹp trời. Làng quê với cánh đồng lúa xanh mướt. Hàng tre xanh đung đưa trong gió nhẹ. Những cánh cò trắng chao nghiêng trong nắng vàng rực rỡ. Những đám mây bồng bềnh trôi giữa trời. Tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được dường như cả thế giới thiên nhiên, tạo hoá đang hoạt động, ai vào việc nấy. Tất cả căng tràn nhựa sống và tha thiết với cuộc đời. Những sự vật được nhà thơ thổi vào đó linh hồn khiến chúng trở nên sinh động như thế giới con người.
Phải là người yêu thiên nhiên, yêu làng quê, có tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp c ủa thiên nhiên thì mới có thể cảm nhận và viết lên những dòng thơ hay như thế. Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã truyền thêm cho em tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, cuộc đời.
Đề 5: Cảm nhận của em về những dòng thơ sau:
“Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ôm ấp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày.”
(Vàm Cỏ Đông - Hoài Vũ)
Gợi ý:
- Nghệ thuật: So sánh tuyệt đối, chính xác nên thơ.
- Nội dung : Sự gắn bó đầy ân tình thủy chung của dòng sông đối với cuộc sống nơi làng quê.
- Sự gắn bó tình nghĩa sâu nặng giữa con sông với con người giữa thiên nhiên với cuộc sống là sự gắn bó máu thịt của con người trong tình yêu làng quê tha thiết.
- So sánh dòng sông như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng sự sống của quê hương làm cho ruộng lúa vườn cây xanh non hòa chung trong màu xanh tràn trề nhă sống. Dòng sông như lòng người mẹ phủ đầy tình hương, trang trải tình thương cho mọi người.
Đề 6: Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của bài thơ sau:
Mo cau
“Trở vàng rồi cái mo cau
Tách rời thân mẹ, rụng vào tay em
Cho bà cắt chiếc quạt xinh
Cất bao ngọn gió ngọt lành vào đây
Hương cây trái, mảnh vườn này
Phả vào tỏa ngát từ tay của bà.”
( Trần Ngọc Hưởng)
*Gợi ý:
- Hai câu thơ đầu sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa. Qua cách nhìn của nhà thơ hình ảnh chiếc mo cau trở nên hết sức sống động, có hồn. Ở đây chiếc mo cau có sự biến đổi và không được sống trên thân mẹ nữa. Câu thơ thứ hai là một cách nói hết sức dễ thương của một em bé. Câu thơ kể tả quá trình nhưng ẩn chứa trong đó là cả một sự nâng niu, đón nhận một sự vật rất đỗi bình dị trong thiên nhiên.
Sự vật bình thường ấy tưởng như là bỏ đi khi nó không còn sống ở trên cây nữa. Nhưng không chiếc mo cau đã có một đời sống mới. Dưới bàn tay khéo léo chắt chiu của người bà nó trở thành một chiếc quạt nhỏ nhắn, xinh xắn và mang lại bao lợi ích. Ở nó chất chứa bao ngọn gió trong lành mát dịu. Ngọn gió được tạo ra từ chiếc quạt hay từ bàn tay tần tảo chắt chiu, chịu thương chịu khó của người bà? phải nói là cả hâi. Rồi từ đó ngưới cháu được hưởng ngọn gió trong lành chứa đựng hương vị ngọt ngào của cây trái vườn nhà.
- Nghệ thuật ẩn dụ được tác giả sử dụng rất khéo léo và tinh tế.
- Bài thơ với hình ảnh thơ gần gũi, ngôn ngữ thơ dung dị dễ hiểu thể hiện một cách nhìn hết sức thân thương về những sự vật bình thường trong thiên nhiên với bàn tay khéo léo của con người. Bài thơ còn thể hiện sự chắt chiu tần tảo, cần kiêm, tình cảm yêu thương con cháu, sự chăm sóc ân cần chu đáo của mỗi người bà, người mẹ Việt Nam. Bà thơ giúp chúng ta biết tạo ra và nâng niu giá trị của những sự vật bình thường trong cuộc sống. Biết trân trọng tình cảm yêu thương, gắn bó đối với những người trong gia đình thân yêu của mình.
Đề 7: Dưới đây là những dòng nhật kí của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm
“…26/ 11/ 1968
Kỉ niệm ngày sinh hôm nay trong tiếng súng địch vẫn nổ rền vang bốn phía. Cũng đã quen rồi những cảnh vai mang ba lô đưa những người thương binh chạy đi trốn. Có gì đâu hâi năm rồi quen với lửa đạn chiến tranh.
Giờ đây khu rừng đã lặng im một cách đặc biệt. Tiếng súng đã im, mọi người cũng lặng im theo dõi tình hình. Riêng mình lòng bỗng thiết tha nhớ đến những ngày êm ấm trên miềm Bắc. Cũng là nắng mùa đông nhưng nắng ấm vì niềm vui tràn ngập, ba má mua hoa về tặng, tổ chức liên hoan, bạn bè đến chúc mừng. Bây giờ trong niềm mong ước của mình khác hơn ngày xưa, nếu có được như vậy thì trên hết, hãy ưu tiên cho những người vào sinh ra tử 23 năm nay, những thanh niên lớn lên chỉ biết có đau thương, căm thù và hi sinh gian khổ. Và hãy hi sinh cho những người thân yêu của mình trên mảnh đất miền Nam này. Ba má ơi, hãy chuẩn bị tất cả tình thương đón con và những đứa con trâi miền Nam của ba má trở về. Những đứa em của con sẽ vô cùng xứng đáng với tình thương của ba má..”
(Trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm - NXB hội nhà văn năm 2005)
Hãy nêu suy nghĩ của em sau khi đọc những dòng nhật kí trên?
*Hướng dẫn:
Đây là những dòng văn viết theo thể nhật kí thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ riêng tư của một con người. Là dòng nhật kí của một nữ bác sĩ trẻ của thủ đô tham gia cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam. Những dòng nhật kí này được viết vào những ngày vô cùng thiêng liêng đối với chị: ngày sinh nhật. Là ngày rất đặc biệt của Đặng Thùy Trâm nhưng nó lại rất giống với bao ngày đã qua của chị. Đó là chạy càn, đó là sự nguy hiểm. Đối mặt với nguy hiểm liên tiếp, các anh, các chị đã có thêm bản lĩnh và đã trở thành thói quen của những người chiến sĩ tại chiến trường. Qua đó chúng ta phần nào cảm nhận được không khí ác liệt của những cuộc chiến tranh mà nhân dân Việt Nam đã phải gánh chịu.
Đề 8: Nêu điều cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“ Khi trời trong gió nhẹ sớm mâi hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió ”
( Quê hương- Tế Hanh)
Hướng dẫn:
1. Mở đoạn: Giới thiệu khái quát về tác giả Tế Hanh và bài thơ “Quê hương”
VD Viết về quê hương có rất nhiều nhà thơ, nhà văn đề cập đến nhưng em thích nhất bài thơ quê hương của nhà thơ Tế Hanh viết về một buổi sáng dân làng ra khơi đánh cá.
2. Thân đoạn:
- Nghệ thuật: Đoạn thơ tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh rất đặc sắc chiếc thuyền được so sánh với con tuấn mã khiến người đọc hình dung ra con thuyền mạnh mẽ vững chắc đang rẽ sóng ra khơi. Bên cạnh đó tác giả còn so sánh cánh buồm trông như mảnh hồn làng khiến người đọc hình dung ra vẻ đẹp của con thuyền đang lướt sóng ra khơi còn thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và sự vật. Đặc biệt nhà thơ sử dụng biện pháp nhân hóa chiếc thuyền phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Độc đáo hơn cả là nghệ thuật ẩn dụ cánh buồm cũng giống như con người nó đem hết sức thâu góp gió đưa con thuyền ra khơi đánh cá, thu được những mẻ cá bội thu. Nhà thơ còn kết hợp sử dụng những động từ mạnh “hăng”, “phăng”, “rướn”, “vượt”, “thâu”, “góp”, cách sử dụng từ Hán Việt góp phần làm cho sự vật, con người đẹp hơn lên, đồng thời bộc lộ thái độ trân trọng tự hào về con người, con thuyền và vùng biển quê hương.
- Nội dung: Qua các biện pháp nghệ thuật trên tác giả giúp người đọc cảm nhận được khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp và vẻ đẹp mạnh mẽ phơi phới niềm tin của đoàn thuyền ra khơi đánh cá hứa hẹn một mẻ cá đầy khoang.
3. Kết đoạn
- Cảm ơn nhà thơ Tế Hanh chỉ qua một đoạn thơ nhỏ đã giúp ta thấy được đất nước mình thật tươi đẹp, biển cả thật giàu có và con người Việt Nam thật đáng yêu!
Đề 9: Cảm nhận của em về vẻ đẹp thiên nhiên mùa thu trong đoạn thơ sau:
“Gió may nổi bờ tre buồn xao xác
Trên ao bèo tàn lụi nước trong mây
Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác
Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.”
(Trích Sang thu - Anh Th )
* Gợi ý:
* Chỉ với bốn câu thơ tám chữ và bằng vài nét phác họa nhà thơ đã vẽ ra trước mắt người đọc một bức tranh mùa thu thôn quê đẹp, giản dị, và đầy hấp dẫn:
- Mựa thu bắt đầu với gió heo may mang theo hơi lạnh của đất trời tỏa ra không gian bao trùm lên vạn vật, có lẽ chẳng ở đâu có cái se lạnh ấy ngoài mùa thu đất Bắc, cái gió mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ.
- Nghệ thuật nhân hóa “bờ tre buồn”, đã gợi ra hình ảnh bờ tre như một sinh thể có linh hồn biết cảm nhận những biến chuyển của thiên nhiên đất trời từ hạ sang thu nên đã mang một nỗi buồn xao xác.
- Mùa thu thường gợi sự tàn phai thế nhưng trong bức tranh thu này sự tàn phai ấy được nữ thi sĩ thể hiện qua hình ảnh của ao bèo tàn lụi vừa gần gũi, quen thuộc lại vừa dân dã. Ao bèo là hình ảnh đẹp của muà hè nhưng khi sang thu đã tàn lụi, song trong sự tàn lụi ấy, nhà thơ lại phát hiện ra vẻ đẹp mới của thiên nhiên mùa thu đó là ao thu với làn nước trong veo in bóng mây khiến cho người đọc liên tưởng tới một sự hòa quyện của mây và nước - một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp.
- Hay nhất vẫn là hai câu thơ cuối: Đọc hai câu thơ ta thấy choáng ngợp trước một cảnh tràn đầy sắc vàng của hoa mướp, của nắng và cả của chuồn chuồn nữa, mỗi màu vàng đều mang một đặc trưng riêng vậy mà khi kết hợp với nhau lại trở nên tuyệt tác đến vậy.
+ Hoa mướp không phải là loài hoa cao sang nó chỉ là loài hoa mộc mạc, đơn sơ gần gũi với hình ảnh nông thôn Việt Nam vào mùa hè, được tác giả đưa vào trong thơ nó trở nên gần gũi, nhuần nhụy và đằm thắm, tinh tế.
+ Hình ảnh con chuồn chuồn được nhân hóa mang tâm trạng như con người: ngẩn ngơ như tiếc nuối một cái gì đó đã qua.
* Nghệ thuật: Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa ‘tre buồn”, “chuồn chuồn ngẩn ngơ” và những từ láy: “xao xác, rải rác, ngẩn ngơ” đã bộc lộ được thần thái của sự vật vừa nhẹ nhàng man mác vừa làm say lòng người.
* Từ vẻ đẹp thiên nhiên mùa thu ta thấy được tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ trước thởi khắc giao mùa của đất trời từ đó gửi gắm tâm trạng buồn man mác trước cuộc đời. Qua khổ thơ ta càng thêm yêu vẻ đẹp của quê hương mình.
Đề 10: Cảm nhận của em về vẻ đẹp thiên nhiên ở Sa Pa trong đoạn văn sau:
“Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe.”
(Trích Lặng lẽ Sa Pa- Nguyễn Thành Long)
* Gợi ý:
Bằng ngôn ngữ tạo hình đặc sắc và sù rung cảm của tâm hồn tinh tế, vẻ đẹp thiên nhiên Sa Pa hiện lên như một bức tranh sơn mài lộng lẫy với những câu văn miêu tả nắng, cây cối, mây.
- Nắng qua ngòi bút của Nguyễn Thành Long hiên lên thật lạ: Nắng len tới đốt cháy cả rừng cây
- Qua nghệ thuật nhân hóa “len”, nắng như một sinh thể biết cử động đồng thời nắng gơi sự chảy trôi của thời gian.
- Rừng cây trong nắng được miêu tả bằng một cảm nhận rất tinh tế nên thơ, thông như reo vui cùng niềm hứng khởi đón chào nắng.
- Mây là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca từ xưa đến nay, nhưng trong đoạn văn này mây không xuất hiện ngay mà nắng dọn đường cho mây xuất hiện, mây không xa vời mà như một sinh thể sống tinh nghịch, đáng yêu, gần gũi với con người, luồn vào gầm xe khiến con người có thể cầm nắm được.
- Qua cách miêu tả nắng, mây, tả sự sống của cây lá bức tranh thiên nhiên hiện lên thật đẹp và thơ mộng. Thiên nhiên ở SaPa không tĩnh tại mà tràn trề sức sống, có cảm xúc như con người, nó như tô thêm vẻ đẹp của con người SaPa. Phải có tâm hồn nhạy cảm tinh tế trước thiên nhiên tạo vật thì Nguyễn Thành Long mới có thể khắc họa bức tranh nên thơ và sống động như vậy.
Đề 11: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh…
(Đoàn Văn Cừ, Chợ Tết )
* Gợi ý:
* Về nghệ thuật:
- Đoạn thơ sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ:
+ So sánh: Sương trắng ....như giọt sữa
+ Nhân hóa: Núi - uốn mình, đồi - thoa son
- Sử dụng nhiều từ ngữ chỉ màu sắc: trắng, tía, xanh, son(đỏ).
- Sử dụng phương thức miêu tả để bộc lộ cảm xúc....
* Về nội dung:
- Cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân:
+ Đó là vẻ đẹp tinh khôi đầy hấp dẫn qua nghệ thuật so sánh sương trắng... như giọt sữa, gợi sự ngọt ngào tinh khiết của những giọt sương mùa xuân.
+ Vẻ tinh nghịch, nhí nhảnh của những tia nắng tía trên ruộng lúa.
+ Núi khoác trên mình tấm áo xanh của ngàn cây trong dáng vẻ thướt tha điệu đà.
+ Dưới ánh ban mai, ngọn đồi như được thoa một lớp son rực rỡ.
=> Thiên nhiên đang cựa mình trong buổi sớm mùa xuân. Cảnh vật toát lên vẻ rực rỡ, lấp lánh với sự tinh khôi, trong trẻo, mượt mà. Bức tranh xuân gợi lên cảm giác yên bình, ấm áp.
- Thấy được cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp mùa xuân. Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước.
- Cảm xúc của bản thân khi đọc đoạn thơ: xao xuyến trước vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, thêm yêu mến, gắn bó với quê hương đất nước.
Lưu ý: Trong quá trình cảm nhận, HS cần lồng nghệ thuật với nội dung, các em có thể có những phát hiện mới lạ song cần phù hợp với nội dung nghệ thuật của đoạn thơ. Giáo viên cần trân trọng những sáng tạo trong bài làm của học sinh.
Đề 12: Cảm nhận của em khi đọc đoạn văn sau:
“ Mùa xuân đã đến hẳn rồi, đất trời lại một lần nữa đổi mới, tất cả những gì sống trên trái đất lại vươn lên ánh sáng mà sinh sôi nảy nở với một sức mạnh không cùng. Hình như từng kẽ lá khô cũng cựa mình vì một lá cỏ non vừa xòe nở, hình như mỗi giọt khí trời cũng rung động không lúc nào yên vì tiếng chim gáy, tiếng ong bay...”
(Theo Nguyễn Đình Thi)
* Gợi ý:
+ Về nghệ thuật: Đoạn văn sử dụng nghệ thuật nhân hóa đặc sắc: “từng kẽ lá khô…cựa mình, mỗi giọt khí trời... rung động”
- Lời văn giản dị, trong sáng, giàu sức gợi cảm.
+ Về nội dung: Chỉ bằng một đoạn văn ngắn, Nguyễn Đình Thi đã mang đến cho người đọc một bức tranh xuân đẹp. Mùa xuân bắt đầu với lá cỏ non xòe nở khiến từng kẽ lá khô “cựa mình” nhường chỗ cho búp non, giọt khí trời “rung động” bởi âm thanh của tiếng chim gáy, tiếng ong bay - những âm thanh của mùa xuân làm cho không gian thêm sôi động. Mùa xuân không tĩnh tại mà luôn có sự vận động không ngừng của tạo vật góp phần làm nên sức sống mãnh liệt. Thiên nhiên ở đây có sự giao hòa giao cảm. Qua đó, ta thấy được sự quan sát tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của tác giả.
Đề 13: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau
“Cỏ giấu mầm trong đất
Chờ một ngày đông qua
Lá bàng như giấu lửa
Suốt tháng ngày hanh khô
Búp gạo như thập thò
Ngại ngần nhìn gió bấc
Cánh tay xoan khô khốc
Tạo dáng vào trời đông.”
* Gợi ý làm bài
Thiên nhiên là một chủ đề quen thuộc trong thơ ca. Mùa xuân muôn hoa khoe sắc; mùa hè đầy vườn trái chín; mùa thu nắng vàng rực rỡ. Song đoạn thơ của nhà thơ.... lại tái hiện cảnh vật của mùa đông? Cảnh mùa đông có gì đẹp
Đoạn thơ sử dụng biện pháp nhân hoá, dùng những từ ngữ chỉ hoạt động tính chất của người để chỉ hành động, tính chất của vật. Đó là các từ: “giấu” “chờ”, “thập thò”, “ngại ngần”, “nhìn”, “tạo dáng” để miêu tả cỏ, lá bàng, búp gạo, cành cây xoan. Phép nhân hóa gợi lên cảnh vật thiên nhiên vào mùa đông khắc nghiệt. Cỏ dường như khô héo, lá bàng đỏ rực trước cái lạnh khủng khiếp của mùa đông; những búp gạo nhỏ nhoi dường như e ngại, sợ hãi những cành xoan khẳng khiu, khô khốc vươn cánh tay gầy gò giữa không gia lạnh lẽo. Biện pháp nhân hoá tài tình khiến thế giới các loài cây hiện lên sinh động như cuộc sống con người. Chúng đang khép mình nằm yên trong mùa đông giá lạnh, khắc nghiệt. Nhưng bên trong ẩn chứa một nguồn sống vô cùng mạnh mẽ. Sức sống ấy đủ để chúng vượt qua cái khắc nghiệt của mùa đông để chờ một mùa xuân mới sẽ về.
Đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên khắc nghiệt nhưng lại gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác thật ấm áp. Ấm áp vì cảm nhận được sức sống kỳ diệu của thiên nhiên, của cuộc đời. Sau mùa đông giá lạnh sẽ là mùa xuân ấm áp.
Đề 14: Viết một bài văn ngắn phân tích giá trị biểu đạt của phép tu từ chủ yếu trong bài thơ sau:
Ông Trời nổi lửa đằng đông
Bà Sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Bố em xách điếu đi cày
Mẹ em tát nước, nắng đầy trong khau
Cậu Mèo đã dậy từ lâu
Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng
Mụ gà cục tác như điên
Làm thằng Gà Trống huyên thuyên một hồi
Cái Na đã tỉnh giấc rồi
Đàn chuối đứng vỗ tay cười, vui sao!
Chị Tre chải tóc bờ ao
Nàng Mây áo trắng ghé vào soi gương
Bác Nồi Đồng hát bùng boong
Bà Chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà
(Buổi sáng nhà em, Trần Đăng Khoa, 1967)
* Gợi ý làm bài:
- Bài thơ tả cảnh buổi sáng ở làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhà thơ đã tái hiện lại cảnh thiên nhiên, hoạt động của tạo vật, con vật, cây cối và con người
- Biện pháp nhân hoá: dùng những từ ngữ vốn để gọi và tả người để gọi, tả sự vật, hiện tượng “ông”, “nổi lửa”, “Bà sân” vấn chiếc khăn hồng”… khiến thế giới con vật, đồ vật hiện lên sinh động như thế giới con người.
Buổi sáng bắt đầu bằng hình ảnh: “Ông trời… đằng đông” gợi tả hình ảnh mặt trời – ông chủ của ngôi nhà vũ trụ đang thắp lên một ngày mới bằng ánh nắng rự rỡ, chói chang. Ánh nắng ban mai rực rỡ ấy chiếu xuống sân nhà cậu bé Khoa khiến cho Bà Sân như được vấn một chiếc khăn màu hồng tươi đẹp. Đó cũng là lúc bố mẹ Khoa ra đồng làm việc. Bố cày ruộng, mẹ tát nước. Công việc vất vả của mẹ được miêu tả bằng hình ảnh hết sức nên thơ: “Mẹ em tát nước nắng đầy trong khau”. Ánh nắng hồng lấp lánh trong từng khau nước của mẹ Khoa khiến người đọc liên tưởng tới câu ca dao:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”
Những câu thơ tiếp theo miêu tả hoạt động của các loài vật: Cậu Mèo, mụ Gà và thằng Gà Trống. Tác giả đã tái hiện hình ảnh chú mèo lười rửa mặt bằng ngôn từ vô cùng sinh động, tự nhiên: “Chú mèo… nghiêng”. Cũng lúc này, mụ Gà Mái đang cục tác ầm ĩ, không hiểu là tìm ổ đẻ hay khoe cho cả làng biết mình vừa cho ra đời một quả trứng hồng. Thấy thế, thằng gà trống chẳng hiểu chuyện gì cũng “huyên thuyên một hồi”. Âm thanh tiếng gà ấy thật thân thuộc, yên bình của vùng thôn quê mỗi sớm mai thức dậy.
Đôi mắt của cậu bé Khoa dõi ra khu vườn bé nhỏ của gia đình. Kia rồi, cái Na đã mở mắt, dõi nhìn bầu trời trong veo. Hàng Chuối trong vườn xào xạc gió, những chiếc lá bay phần phật trong gió như đang vỗ tây cười. Và kìa, Chị Tre và Nàng Mây hiện lên mới điệu đà làm sao! Cách dùng nhân hóa kết hợp với cách dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động của người để chỉ hoạt động của vật “chải tóc”, “soi gương” khiến Chị Tre và Nàng Mây hiện lên như những cô gái duyên dáng, điệu đà đang chải chuốt, làm duyên.
Hai câu thơ cuối thật hóm hỉnh với hình ảnh “Bác Nồi Đồng” và “Bà Chổi”. Bác Nồi Đồng vui tính đang hát bùng boong trong bếp. Bà Chổi đang loẹt quoẹt lom khom quét nhà. Qua hai hình ảnh thơ trên ta hình dung ra cậu bé Khoa ngoan ngoãn đang giúp bố mẹ nấu cơm, quét nhà.
Bằng thể thơ lục bát, cách ngắt nhịp linh hoạt 2/4 và 3/3 ở câu lục; 2/6 và 4/4 ở câu bát, bài thơ đã tái hiện lại những hoạt động quen thuộc trong không gian làng quê. Qua đó, nhà thơ cho người đọc cảm nhận được thiên nhiên, cuộc sống tươi đẹp, yên bình của một miền quê Bắc Bộ.
Phải là một cậu bé có tâm hồn nhạy cảm, lòng yêu quê tha thiết Khoa mới có thể viết lên những dòng thơ hay đến thế. Nhà thơ cho em thêm yêu, thêm mến mảnh đất quê hương, đất nước mình.
Đề 15: Em cảm nhận được vẻ đẹp nào trong nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ sau:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng.
(Nhớ con sông quê hương- Tế Hanh)
Gợi ý làm bài
* Hoàn cảnh ra đời của bài thơ:
Bài thơ được viết vào năm 1956, khi đất nước ta đang chìm đắm trong khói lửa chiến tranh, đất nước bị đế quốc Mỹ chia cắt thành hai miềm Nam - Bắc. tác giả phải xa quê hương ra miền bắc công tác.
* Xác định nội dung đoạn thơ: Bài thơ thể hiện vẻ đẹp của dòng sông và tính cảm tha thiết gắn bó với con sông quê hương của Tế Hanh
*Xác định biện pháp nghệ thuật
- So sánh: Nước- gương: diễn tả vẻ đẹp rộng lớn, phẳng lặng, trong vắt của mặt sông.
- Nhân hoá: Soi toc hàng tre: Những hàng tre xanh mướt đôi bờ như những cô thôn nữ xinh đẹp, duyên dáng. Sau mỗi buổi đi làm về thường ra sông chải chuốt, làm duyên
- So sánh: tâm hồn- buổi trưa hè: Diễn tả tình cảm nhớ thương dòng sông quê hương cháy bỏng trong lòng nhà thơ
Ngoài ra, còn khai thác thêm vẻ đẹp của một số từ ngữ đặc sắc như:
- Động từ “toả”: thể hiện tình cảm lan toả, bao trùm dòng sông
- Động từ “có” thể hiện niềm tự hào sâu kín của tác giả khi giới thiệu về dòng sông quê mình.
- Các tính từ gợi tả như “xanh biếc”, “lấp loáng” nhằm miêu tả trọn vẹn hình ảnh một dòng sông quê xinh đẹp, hiền hoà, nơi cất giữ bao kỉ niệm ấu thơ của tác giả.
Đề 16: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Bông cúc là nắng làm hoa
Bướm vàng là nắng bay xa, lượn vòng
Lúa chín là nắng của đồng
Trái thị, trái hồng là nắng của cây.
(Lê Hồng Thiện)
Có lẽ mùa thu là mùa đẹp nhất trong một năm. Bởi vậy mà có biết bao tác phẩm nghệ thuật mang đề tài mùa thu ở mọi lĩnh vực thơ, ca, nhạc, họa. Và khi đọc những dòng thơ viết về mùa thu của Lê Hồng Thiện, ta lại thấy một sắc thu diệu kỳ hiện về
Nhà thơ thật khéo léo khi sử dụng một loạt các biện pháp so sánh độc đáo:
“Bông cúc… của cây”
Nói đến thu là phải nói đến sắc nắng vàng. Nắng vàng được ủ trong sắc vàng tươi rực rỡ của hoa cúc. Nắng vàng nhuộm sắc cánh bướm bay rập rờn khắp cánh đồng quê. Nắng vàng thúc dục cánh đồng lúa trĩu hạt mau chín. Nắng vàng ủ trong trái thị, trái hồng trong vườn nhà. Như vậy, nắng hiện lên với muôn màu muôn vẻ: nắng ủ trong sắc màu của hoa, nắng làm nên những mùa vàng bội thu, nắng ủ trong trái chín, trong hoa thơm, quả ngọt. Nắng gần gũi và tỏa ấm cho cuộc sống con người và con người cũng đang tạo ra nắng.
Chỉ bằng mấy dòng thơ nhẹ nhàng, tác giả như vẽ lên trước mắt ta cảnh sắc thiên nhiên mùa thu tuyệt đẹp. Đó là bức tranh cánh đồng quê với gam màu chủ đạo là sắc vàng. Sắc vàng của hoa cúc mùa thu. Sắc vàng của những luống hoa cải rực rỡ rập rờn bướm lượn. Sắc vàng trù phú, ấm no của cánh đồng sắp vào vụ gặt. Sắc vàng của những trái thị, sắc đỏ của những trái hồng ngọt ngào một thời thơ dại.
Có lẽ phải là người yêu và gắn bó tha thiết với thiên nhiên thì Lê Hồng Thiện với có được những dòng thơ hay đến thế. Cảm ơn nhà thơ đã cho em cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của thiên nhiên, của sắc thu quê hương.
Đề 17: Cảm nhận của em về bài thơ sau:
Sau làn mưa bụi tháng ba
Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu
Nền trời rừng rực ráng treo
Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay.
(Tháng ba, 1972 - Trần Đăng Khoa)
Bài thơ trên được nhà thơ Trần Đăng Khoa viết vào năm 1972. Bài thơ tả cảnh thiên nhiên tháng ba và những liên tưởng của nhà thơ trước thiên nhiên đó.
Hai câu thơ đầu có sử dụng phép so sánh ngang bằng “Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu”. Lá tre đỏ được so sánh với lửa. Lửa mang màu đỏ rực. Biện pháp so sánh ngang bằng tái hiện hình ảnh lá tre vào tháng ba ngả sang màu đỏ rực như lửa. Đó là một hình ảnh rất quen thuộc ở mỗi làng quê Việt Nam xưa.
Hai câu thơ sau miêu tả hình ảnh bầu trời tháng ba. Tháng ba là tháng cuối cùng của mùa xuân, cái lạnh giá đã không còn. Trời đã bắt đầu chuyển nắng sau những ngày mưa bụi. Và khi hoàng hôn xuống, phía chân trời có những đám mây màu đỏ rực, phản quang ánh sáng mặt trời, dân gian thường gọi là “ráng treo”. Hình ảnh “ráng treo” khiến nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh ngưa sắt và người anh hùng làng Gióng thuở đánh giặc Ân. “Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay”. Câu thơ miêu tả mà giàu sức liên tưởng thú vị, nhiều ý nghĩa. Thì ra hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay về trời luôn sống trong tâm trí mỗi người Việt Nam
Với thể thơ lục bát nhẹ nhàng, những hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng, nhà thơ đã tái hiện cảnh thiên nhiên tháng ba quen thuộc đồng thời truyền cho người đọc thêm yêu vẻ đẹp của quê hương đất nước. Có thể thấy Trần Đăng Khoa là nhà thơ rất yêu, gắn bó với thiên nhiên, yêu mến và am hiểu lịch sử dân tộc.
Đề 18: Hãy nêu cảm nhận của em khi đọc bài thơ sau:
Bà còng trong câu ca dao
Cứ làm em nghĩ: vì sao bà còng?
Hôm nay cấy lúa trên đồng
Đã cho em hiểu: bà còng vì sao!
(Bà còng- Phong Thu)
- Nội dung bài thơ: Viết về những suy nghĩ của em bé về bà còng.
- Nghệ thuật: thể thơ lúc bát, truyền cảm, dễ đi vào lòng người.
- Lối đảo ngữ: vì sao bà còng- bà còng vì sao có tác dụng nhấn mạnh suy nghĩ, cảm xúc
- Sử dụng dấu chấm hỏi, dấu chấm cảm có giá trị biểu đạt.
Đề 11: Cảm nhận về bài ca dao sau
onthicaptoc.com Cac chuyen de boi duong HSG Ngu van 7
PHẦN ĐỌC HIỂU
PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
ÔN TẬP
TIẾNG NÓI VẠN VẬT
VĂN BẢN 1: LỜI CỦA CÂY
(Trần Hữu Thung)
Môn: Ngữ văn 7 - Năm học: 2023– 2024
(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề)
ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Ôn tập cơ bản và nâng cao về đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại toàn bộ các thể loại HS được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 gồm:
ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: