PHẦN I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Ôn tập cơ bản và nâng cao về đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại toàn bộ các thể loại HS được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 gồm:
- Truyện (truyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng)
- Thơ (bốn chữ, năm chữ, tự do)
- Văn bản thông tin (về trò chơi, về cách thức hoạt động, về lễ hội)
- Văn bản nghị luận (nghị luận xã hội và nghị luận văn chương)
- Tản văn, tùy bút
B. TIẾN TRÌNH ÔN LUYỆN
PHẦN 1: THỂ LOẠI TRUYỆN
I. ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI
*Đặc điểm của thể loại:
- Tính cách nhân vật, bối cảnh
+ Tính cách nhân vật: Thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, suy nghĩ của nhân vật, qua nhận xét của người kể chuyện và các nhân vật khác.
+ Bối cảnh :
++ Bối cảnh lịch sử: Hoàn cảnh xã hội của một thời kì lịch sử
++ Bối cảnh riêng: Thời gian và địa điểm, quang cảnh cụ thể xảy ra câu chuyện.
- Tác dụng của việc thay đổi ngôi kể:
+ Ngôi kể:
++ Ngôi thứ nhất: Xưng tôi
++ Ngôi 3: Người kể giấu mặt
+ Thay đổi ngôi kể: Để nội dung kể phong phú hơn, cách kể linh hoạt hơn.
2. Truyện ngụ ngôn
a. Khái niệm
- Là những truyện kể ngắn gọn, hàm súc, bằng văn xuôi hoặc văn vần. Truyện thường đưa ra bài học về cách nhìn sự việc, cách ứng xử của con người trong cuộc sống.
b. Các yếu tố trong truyện ngụ ngôn
- Đề tài: Thường là những vấn đề đạo đức hay những cách ứng xử trong cuộc sống.
- Nhân vật: Có thể là loài vật, đồ vật hoặc con người. Các nhân vật hầu như không có tên riêng, thường được kể gọi bằng danh từ chung như: rùa, thỏ, bác nông dân,…Từ suy nghĩ, hành động, lời nói của nhân vật, người nghe, người đọc có thể rút ra những bài học sâu sắc.
- Sự kiện: Một câu chuyện thường xoay quanh một sự kiện chính.
- Cốt truyện: Thường xoay quanh một sự kiện (một hành vi ứng xử, một quan niệm, một nhận thức phiến diện, sai lầm…) nhằm đưa ra bài học hay lời khuyên nào đó.
- Tình huống truyện: là tình thế làm nảy sinh câu chuyện khiến nhân vật bộc lộ đặc điểm, tính cách của mình. Qua đó, ý nghĩa câu chuyện được khơi sâu.
- Không gian trong truyện: là khung cảnh, môi trường hoạt động của nhân vật ngụ ngôn, nơi xảy ra sự kiện câu chuyện.
- Thời gian trong truyện: một thời điểm, một khoảnh khắc nào đó mà sự việc, câu chuyện xảy ra, thường không xác định cụ thể.
3. Truyện khoa học viễn tưởng
a. Khái niệm:
- Truyện khoa học viễn tưởng là loại truyện hư cấu về những điều diễn ra trong một thế giới giả định, dựa trên tri thức khoa học và trí tưởng tượng của tác giả.
- Truyện khoa học viễn tưởng rất ít khi chứa các yếu tố thần kì, siêu nhiên mà luôn dựa trên những kiến thức hoặc lí thuyết khoa học tự nhiên tại thời điểm tác phẩm ra đời.
b. Đặc điểm
* Đề tài: đa dạng, phong phú thường gắn với các phát minh khoa học, công nghệ như chế tạo dược liệu, khám phá dưới đáy đại dương, du hành vũ trụ, gặp người ngoài hành tinh
* Cốt truyện: thường được xây dựng dựa trên các sự việc giả tưởng liên quan đến các thành tựu khoa học.
* Tình huống truyện: tác giả thường đặt nhân vật vào những hoàn cảnh đặc biệt, những khó khăn hay mâu thuẫn cần phải giải quyết trong thế giới giả tưởng.
* Sự kiện: Thường trộn lẫn những sự kiện của thế giới thực tại với những sự kiện xảy ra trong thế giới giả định (quá khứ, tương lai, ngoài vũ trụ,...
* Nhân vật: trong truyện thường xuất hiện các nhân vật như người ngoài hành tinh, quái vật, người có năng lực phi thường, những nhà khoa học, nhà phát minh có khả năng sáng tạo kì lạ.
* Không gian, thời gian: mang tính giả định, chẳng hạn thời gian trộn lẫn từ quá khứ, hiện tại và tương lai, không gian vũ trụ, lòng đất, đáy biển,...
II. CÁCH ĐỌC HIỂU TRUYỆN
1. Cách đọc hiểu truyện ngắn
- Đọc nhan đề, tác phẩm và tóm tắt tác phẩm.
- Đọc hiểu được hình thức văn bản:
+ Bối cảnh
+ Nhân vật
+ Ngôi kể và sự thay đổi ngôi kể
+ Ngôn ngữ
- Đọc hiểu nội dung:
+ Nắm được đề tài
+ Chủ đề
+ Ý nghĩa của văn bản
2 . Cách đọc hiểu truyện ngụ ngôn
- Đọc nhan đề, tác phẩm và tóm tắt tác phẩm.
- Nhận biết các yếu tố thể hiện đặc điểm của truyện như đề tài, nhân vật, sự kiện, cốt truyện, tình huống, không gian, thời gian.
- Nhận biết được sự kết hợp lời của người kể chuyện và lời của nhân vật trong truyện.
- Rút ra được bài học của truyện và nêu được ý nghĩa của bài học ấy.
3. Cách đọc hiểu truyện khoa học viễn tưởng
- Trang bị kiến thức khoa học, công nghệ,...liên quan đến tác phẩm tại thời điểm tác phẩm ra đời.
- Đọc nhan đề, tác phẩm và tóm tắt tác phẩm.
- Xác định các yếu tố của truyện: đề tài, tình huống, nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian.
- Xác định yếu tố tưởng tượng của tác phẩm.
- Xác định ý nghĩa của văn bản đối với khoa học, đời sống.
III. LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đề số 1: Đọc văn bản sau:
THỎ THAY RĂNG
1. Trong một khu rừng nọ có một chú thỏ rất nhát gan. Cứ nhìn thấy bóng dáng của cáo là thỏ vội quay đầu bỏ chạy. Có cách gì giúp mình không sợ cáo nữa không? Suy nghĩ mãi, cuối cùng thỏ nghĩ ra một cách rất hay, ấy là thay một bộ răng trông thật hung dữ. Nó tìm đến bác sĩ hạc, bảo:
– Bác sĩ hạc yêu quý, bác chuyên chữa răng cho mọi người, xin bác thay cho cháu một hàm răng mới.
Bác sĩ hạc ngạc nhiên:
– Sao thế? Răng của cháu vẫn còn rất tốt mà.
– Tuy răng của cháu không bị hỏng, nhưng mà nó quá nhỏ. Bác lắp cho cháu một hàm răng giống như của sư tử ấy.
– Nhưng cháu muốn có hàm răng giống như của sư tử để làm gì vậy?
– Cháu không muốn cứ nhìn thấy cáo là phải chạy trốn nữa. Nếu mà làm cho cáo phải chạy khi nhìn thấy cháu thì hay biết mấy.
Bác sĩ hạc rất thông cảm cho hoàn cảnh của thỏ, liền thay cho nó một hàm răng giống như của sư tử. Thỏ soi gương, sung sướng thốt lên:
– Tuyệt quá, giờ mình sẽ đi tìm cáo!
Thỏ vào rừng, xông xáo khắp nơi tìm cáo. Lúc sau, cáo từ bụi cây bước ra, tiến về phía thỏ. Trong thấy cáo từ xa, thỏ sợ quá co giò chạy biến. Nó chạy đến nhà bác sĩ hạc, lắp bắp:
– Bác… bác… sĩ ơi! Xin bác thay cho cháu hàm răng khác.
– Sao thế? Hàm răng này không tốt à?
– Không, không phải ạ! Hàm răng này vẫn nhỏ quá. Bác có hàm răng nào to hơn không ạ?
– Dù có thay hàm răng to hơn thì cũng chẳng có tác dụng gì đâu, cháu sẽ vẫn sợ cáo thôi. Thỏ con này, cháu nên thay tim ấy, bỏ trái tim thỏ đi và thay bằng trái tim sư tử thì mới được.
(https://truyendangian.com)
Thực hiện các yêu cầu:
Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời mà em lựa chọn cho các câu hỏi từ câu 1 đến câu 8 vào bài làm. Với câu 9, 10 các em tự viết phần trả lời vào bài.
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên:
A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba D. Không có ngôi kể
Câu 2. Câu thành ngữ nào phù hợp để nói về chú thỏ trong VB trên?
A. Nhanh như thỏ đế
B. Nhát như thỏ đế
C. Thông minh như thỏ đế
D. Huênh hoang như thỏ đế
Câu 3. Trong VB, thỏ đã nghĩ ra cách gì để giúp mình không sợ cáo nữa?
A. Thay bộ răng trông thật hung dữ
B. Nhờ bác sĩ hạc dạy dỗ cáo giúp mình
C. Đi tìm cáo để dạy cho cáo một bài học
D. Nhờ bác sĩ hạc thay trái tim sư tử cho mình
Câu 4: Đề tài của truyện ngụ ngôn trên là:
A. Thỏ thay răng B. Thỏ và cáo
C. Bài học bản tính con người D. Bài học về lòng dũng cảm
Câu 5. Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong câu văn sau: “- Bác...bác...sĩ ơi! Xin bác thay cho cháu hàm răng khác.”
A. Biểu đạt ý còn nhiều sự việc chưa liệt kê hết
B. Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng
C. Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt
D. Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở, ngập ngừng hay ngắt quãng
Câu 6. Xác định không gian của câu chuyện ngụ ngôn trên:
A. Nhà bác sĩ hạc
B. Nhà của thỏ và cáo
C. Trong khu rừng
D. Không xác định được
Câu 7. Truyện ngụ ngôn trên sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. Ẩn dụ, nhân hoá
B. Hoán dụ, nhân hoá
C. So sánh, ẩn dụ
D. Nhân hoá, so sánh
Câu 8. Câu văn: “Có cách gì giúp mình không sợ Cáo nữa không?” là suy nghĩ của ai?
A. Bác sĩ hạc
B. Cáo
C. Người kể chuyện
D. Thỏ
Câu 9. Nêu cách hiểu của em về lời khuyên của bác sĩ hạc dành cho chú thỏ: “Dù có thay hàm răng to hơn thì cũng chẳng có tác dụng gì đâu, cháu sẽ vẫn sợ cáo thôi. Thỏ con này, cháu nên thay tim ấy, bỏ trái tim thỏ đi và thay bằng trái tim sư tử thì mới được”.
Câu 10. Qua câu chuyện trên, em rút ra bài học gì trong cuộc sống? (Viết đoạn văn 4 – 5 câu bày tỏ suy nghĩ của em về bài học đó)
Gợi ý trả lời
Câu
Đáp án
1->8
1
2
3
4
5
6
7
8
C
B
A
C
B
C
A
D
9
Nêu cách hiểu về lời khuyên của bác sĩ hạc dành cho thỏ:
- Việc thay răng không khiến thỏ bớt nỗi sợ đối với cáo bởi vì nỗi sợ đó không xuất phát từ bộ răng của thỏ mà xuất phát từ trái tim của thỏ- trái tim đó ẩn dụ cho bản tính nhát gan của thỏ.
- Vì vậy, muốn thỏ không sợ cáo nữa chỉ có cách thay đổi trái tim, từ trái tim thỏ nhút nhát thành trái tim sư tử dũng mãnh – thay đổi bản tính, rèn luyện lòng dũng cảm của mình. Tuy nhiên, đây không phải là việc dễ.
10
Bài học: Vẻ bề ngoài không thể làm thay đổi được bản chất bên trong. Bản tính của mỗi người là rất khó thay đổi. Muốn chiến thắng nỗi sợ hãi và những hạn chế của bản thân cần có sự thay đổi tích cực từ bên trong của con người.
Đề số 2: Đọc VB sau:
KIẾN VÀ VE SẦU
Ngày xưa, Kiến và Ve Sầu là đôi bạn rất thân. Chúng cùng ở với nhau trên một cành cây khô. Thời ấy, thức ăn trên mặt đất còn thừa thãi nên ngày ngày chúng ăn xong lại rong chơi, tối lại cùng nhau ngủ trên cành cây.
Một đêm, trời bỗng dưng nổi cơn mưa bão, cây cối ngả nghiêng. Nước trút xuống như thác. Cành cây khô bị gãy, văng đi rất xa, văng cả đôi bạn thân xuống đất. Chúng phải cố sống cố chết bám lấy rễ cây để khỏi bị nước mưa cuốn đi. Sáng hôm sau, trời lại quang đãng. Kiến và ve đều ướt lướt thướt, mình mẩy đau như dần. Kiến bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Phải làm tổ để tránh mưa gió”. Kiến bàn bạc với Ve Sầu, Ve Sầu mỉm cười:
– Chúng ta từ trước tới giờ vẫn sống trên cành cây. Gió bão năm thì mười họa mới có một lần, hơi đâu mà làm tổ cho mệt xác.
Nhưng Kiến vẫn lo gió bão. Nó tìm môt gốc cây khá chắc để làm nhà, ngày ngày nó đi tìm mùn lá, đem lên xây đắp một kiểu nhà mới. Dưới ánh nắng hè gay gắt, công việc làm rất vất vả, nhưng Kiến không nản lòng. Còn Ve Sầu đã không làm với bạn thì chớ, lại còn chế nhạo bạn.
Mặc cho bạn chế giễu, Kiến cứ hì hục ngày này sang ngày khác và một tháng sau thì ngôi nhà xinh xắn đã hoàn thành. Nó nghĩ thương Ve Sầu, ngày nắng đêm sương, nên tha thiết mời Ve Sầu về cùng ở. Lúc đầu, vì không bỏ sức lao động ra, Ve Sầu cũng thấy ngượng ngùng thế nào ấy. Nhưng thấy Kiến khẩn khoản, mà ngôi nhà thì xinh xắn quá, nên nó cũng đồng ý.
Ve ở cùng Kiến, Ve Sầu chẳng chịu làm gì. Đến bữa thì đi kiếm ăn, ăn xong lại nằm hát nghêu ngao, mặc cho Kiến một mình hì hục quét dọn, xếp đặt nhà cửa cho ngăn nắp.
Kiến thường lo lắng đến mùa đông tháng giá, thức ăn khó kiếm, nên bàn với Ve Sầu: “Chúng ta đã có nhà ở rồi, nhưng chúng ta còn phải kiếm thức ăn để dành, khi mưa rét khỏi phải nhịn đói”.
Ve Sầu nói: “Thức ăn khối ra đấy, tích trữ làm gì cho mệt xác”. Kiến bực mình, để mặc Ve Sầu ở nhà ca hát, ngày ngày xuống đất kiếm mồi. Chẳng bao lâu, nhà Kiến đầy ăm ắp thức ăn dùng trong cả mùa đông chưa chắc đã hết. Nhưng trong khi Kiến đi tìm mồi, Ve Sầu ở nhà một mình thấy buồn, đi múa hát với đàn bướm, tối lại về nhà ngủ.
Một hôm, trời tối đã lâu, Kiến nóng lòng chờ bạn mà không thấy bạn về. Sáng sớm hôm sau, Kiến đi tìm Ve Sầu, nghe thấy Ve Sầu đang nghêu ngao trên cành lá, Kiến bò tới:
– Anh đi đâu mà cả đêm hôm qua không về nhà? Về đi thôi. Về mà xem, nhà rất nhiều thức ăn. Ta không lo gì mùa đông tháng giá nữa.
Ve Sầu đã không về thì thôi, lại còn mắng bạn:
– Anh ngu lắm. Thức ăn đầy rẫy thế này tội gì mà hì hục cho mệt xác. Anh xem tôi có chết đâu. Thôi từ nay anh mặc tôi. Ai lo phận nấy.
Kiến buồn bã ra về.
Ít lâu sau, lá rừng dần dần ngả màu vàng, chỉ hơi có gió nhẹ là thi nhau rụng tới tấp. Trời trở rét. Mưa tầm tã suốt ngày, gió bấc thổi từng cơn. Rét thấu xương. Ve Sầu không có chỗ trú, ướt như chuột lột, run như cầy sấy. Ve Sầu ngượng quá, không dám lại nhà Kiến nên lần mò đến nhà Ong xin ăn.
Nó vừa lò dò đến cửa thì Ong tưởng ve vào ăn cướp vội xông ra đốt. Ve Sầu đau quá, vừa chạy, vừa kêu khóc ầm ĩ. Bị Ong đốt nên mắt Ve Sầu lồi ra, mũi sưng vù lên và vì quá đói bụng nên bụng ve tuy to nhưng rỗng tuếch.
(Truyện ngụ ngôn La Phông ten – Kiến và Ve Sầu – TruyenDanGian.Com –)
Thực hiện các yêu cầu:
Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời mà em lựa chọn cho các câu hỏi từ câu 1 đến câu 8 vào bài làm. Với câu 9, 10 các em tự viết phần trả lời vào bài.
Câu 1. Các nhân vật trong VB trên có đặc điểm:
A. Là con người, không có tên riêng, từ suy nghĩ, hành động, lời nói của nhân vật có thể rút ra bài học sâu sắc
B. Là đồ vật, không có tên riêng, được xây dựng bằng biện pháp nhân hóa.
C. Là loài vật, không có tên riêng, từ suy nghĩ, hành động, lời nói của nhân vật có thể rút ra bài học sâu sắc
D. Là con người và loài vật, không có tên riêng, từ suy nghĩ, hành động, lời nói của nhân vật có thể rút ra bài học sâu sắc.
Câu 2. Chỉ ra phép liên kết trong đoạn văn: “Nhưng Kiến vẫn lo gió bão. Nó tìm môt gốc cây khá chắc để làm nhà, ngày ngày nó đi tìm mùn lá, đem lên xây đắp một kiểu nhà mới. Dưới ánh nắng hè gay gắt, công việc làm rất vất vả, nhưng Kiến không nản lòng. Còn Ve Sầu đã không làm với bạn thì chớ, lại còn chế nhạo bạn.”
A. Phép nối, phép thế
B. Phép lặp, phép thế
C. Phép nối, phép liên tưởng
D. Phép thế, phép liên tưởng
Câu 3: Đề tài của truyện ngụ ngôn trên là:
B. Ve sầu và kiến B. Ve sầu lười biếng
C. Bài học về lao động chăm chỉ và biết lo xa D. Bài học về tình bạn
Câu 4: Câu văn: “Phải làm tổ để tránh mưa gió.” là ý nghĩ của ai?
A. Ve Sầu B. Kiến
C. Ong D. Người kể chuyện
Câu 5. Vì sao Ve Sầu không cùng dự trữ thức ăn với Kiến:
A. Vì Ve Sầu nghĩ rằng Kiến sẽ kiếm thức ăn cho cả phần của mình.
B. Vì Ve Sầu nghĩ sẽ đi xin thức ăn của Ong
C. Vì Ve Sầu nghĩ thức ăn đầy ra đấy, không hết được nên không cần dự trữ
D. Vì Ve Sầu thấy Kiến phiền hà, không biết hưởng thụ cuộc sống.
Câu 6. Tính từ nào đúng nhất khi nói về Kiến trong câu chuyện trên:
A. Tốt bụng, vị tha
B. Kiên trì, dũng cảm
C. Hiền lành, thông minh
D. Chăm chỉ, lo xa
Câu 7. Câu nào sau đây chứa phó từ:
A. Kiến buồn bã ra về.
B. Ve ở cùng Kiến, Ve Sầu chẳng chịu làm gì.
C. Ve Sầu không có chỗ trú, ướt như chuột lột, run như cầy sấy.
D. Nhưng Kiến vẫn lo gió bão.
Câu 8. Tại sao đến cuối truyện, khi bị mưa, đói và rét, Ve Sầu lại không đến nhờ sự giúp đỡ của Kiến?
A. Vì Kiến đã đuổi Ve Sầu đi
B. Vì Ve Sầu không muốn bị mất mặt trước Kiến
C. Vì Ve Sầu ngượng, không dám đến nhà Kiến
D. Vì Ve Sầu thích đến nhà Ong hơn
Câu 9. Chỉ ra và phân tích tình huống truyện của văn bản trên.
Câu 10. Câu chuyện đem đến cho em bài học gì? Viết đoạn văn 3-5 câu bàn luận về bài học đó.
Gợi ý trả lời
Câu
Đáp án
1->8
1
2
3
4
5
6
7
8
C
A
C
B
C
D
D
C
9
- Tình huống truyện: Xoay quanh chuyện làm nhà và tìm kiếm thức ăn của Kiến và Ve Sầu.
- Phân tích tình huống truyện: Kiến rủ Ve Sầu làm nhà để chống mưa bão nhưng Ve Sầu lười biếng không chịu làm. Kiến rủ Ve Sầu kiếm thức ăn dự trữ cho mùa đông nhưng Ve Sầu cho rằng thức ăn đầy, không cần dự trữ => Tình huống nhằm làm nổi bật tính cách lười biếng, không biết lo xa của Ve Sầu và tính cách chăm chỉ, biết lo xa của Kiến. Từ đó, làm nổi bật bài học đạo đức của VB.
10
Bài học: Cần phải chăm chỉ lao động và biết lo xa. Con người cần chăm chỉ lao động để có cuộc sống hiện tại đủ đầy. Đồng thời con người cần biết lo xa vì cuộc sống luôn chứa đựng khó khăn, thử thách mà chúng ta không biết trước được. Vì vậy, khi chúng ta biết lo xa thì sẽ không bị thụ động trước những khó khăn đó.
Đề số 3: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Cậu bé chăn cừu
Một ngày nọ, có một cậu bé chăn cừu buồn rầu ngồi trên sườn núi nhìn những con cừu của mình. Để làm vui vẻ cho mình, cậu hít một hơi thật sâu rồi la lên: “Sói! Sói! Có sói đang đuổi bắt cừu!”.
Dân làng chạy ngay lên núi để giúp cậu bé đuổi chó sói. Nhưng khi họ đến đỉnh núi thì không thấy con chó sói nào hết. Cậu bé nhìn những khuôn mặt đang giận dữ của dân làng và cười.
Người dân liền bảo với cậu bé: “Này cậu bé chăn cừu, đừng hô sói khi không có chó sói.”. Rồi họ tức giận bỏ xuống núi.
Hôm sau, cậu bé lại la toáng lên: “Sói! Sói! Có sói đang đuổi bắt cừu!”. Vì sự vui sướng nghịch ngợm của mình, cậu bé lại thấy người dân chạy lên núi để giúp cậu đánh đuổi sói.
Nhưng khi người dân không thấy chó sói đâu, họ liền nghiêm nghị nói với cậu bé: “Hãy dành bài ca đáng sợ của cậu cho khi nào có việc xấu thực sự! Đừng hô sói khi không có chó sói!”.
Nhưng cậu bé chỉ nhe răng cười, nhìn họ tức giận xuống núi một lần nữa.
Về sau, cậu bé nhìn thấy một con sói thực sự đang rình mò đàn cừu của cậu. Rất hoảng sợ, cậu bé vắt chân lên chạy, dùng hết sức la toáng lên: “Sói! Sói!”.
Nhưng dân làng nghĩ rằng cậu bé lại lừa họ nên không ai chạy lên núi.
Hoàng hôn xuống, mọi người tự hỏi tại sao không thấy cậu bé và đàn cừu trở về. Họ liền leo lên đồi để tìm cậu bé và họ thấy cậu đang vừa khóc vừa nói: “Thực sự đã có một con sói ở đây! Bầy cừu đã chạy tan tác! Cháu đã hô có sói! Tại sao các bác không tới?”.
Khi trở về làng, một cụ già đã khoác tay lên vai cậu bé và an ủi: “Sáng mai, chúng ta sẽ giúp cháu tìm những con cừu bị mất, không ai tin một kẻ nói dối ngay cả khi họ đang nói thật, cháu ạ!”.
(Ê-dốp, in trong Tuyển tập truyện tranh Ê-dốp – Cậu bé chăn cừu. Đặng Ngọc Thanh Thảo – An Bình dịch, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010)
Chọn đáp án đúng nhất:
Câu 1. Xác định nhân vật chính của truyện ngụ ngôn trên:
A. Chó sói B. Cừu
C. Dân làng D. Cậu bé chăn cừu
Câu 2. Đề tài của truyện ngụ ngôn trên là:
C. Cậu bé chăn cừu B. Sói và Cừu
C. Bài học về tính trung thực D. Bài học về sự giúp đỡ, sẻ chia
Câu 3. Mục đích của chú bé chăn cừu khi lần đầu hô lên: “Sói! Sói! Có sói đang đuổi bắt cừu!” là gì?
A. Để thử lòng dân làng xem có quan tâm mình không
B. Để phòng bị cho mình lỡ có chó sói đến thật
C. Để làm cho mình vui vẻ
D. Để dọa đàn cừu cho vui
Câu 4: Ban đầu, nghe tiếng kêu cứu, dân làng đã làm gì?
A. Dân làng chạy ngay lên núi để giúp cậu bé đuổi chó sói.
B. Dân làng ai cũng bận đi làm nên không để ý lời cậu nói
C. Dân làng sợ chó sói nên không ai dám đến
D. Dân làng chạy ngay lên để cứu cậu bé về.
Câu 5. Vì sao khi có sói đến thật thì lại không có ai đến giúp cậu bé chăn cừu nữa:
A. Vì nghĩ cậu bé chăn cừu có thể tự đuổi được chó sói
B. Vì dân làng mải đi làm nên không nghe thấy cậu bé kêu cứu
C. Vì cậu bé đã nói dối nhiều lần nên dân làng không tin là có chó sói đến thật
D. Vì cậu bé làm dân làng tức giận nên họ không thèm quan tâm đến cậu bé nữa
Câu 6. Trạng ngữ trong câu sau: “Để làm vui vẻ cho mình, cậu hít một hơi thật sâu rồi la lên: “Sói! Sói! Có sói đang đuổi bắt cừu!” có tác dụng gì?
A. Chỉ thời gian
B. Chỉ nơi chốn
C. Chỉ mục đích
D. Chỉ nguyên nhân
Câu 7. Trong truyện, cậu bé chăn cừu hô có sói đến tất cả mấy lần?
A. 2 B. 3
C. 4 D. 5
Câu 8. Câu nói của cụ già: “Sáng mai, chúng ta sẽ giúp cháu tìm những con cừu bị mất, không ai tin một kẻ nói dối ngay cả khi họ đang nói thật, cháu ạ!”. Đã nói đến hậu quả gì của việc nói dối?
A. Mọi người sẽ không đến giúp mình nữa
B. Sẽ làm mất niềm tin của mọi người đối với mình
C. Sẽ biến mình thành một kẻ nói dối
D. Sẽ đánh mất những thứ thuộc về mình
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Chỉ ra và phân tích tình huống truyện của văn bản trên.
Câu 10. Câu chuyện đem đến cho em bài học gì? Viết đoạn văn 3-5 câu bàn luận về bài học đó.
Gợi ý trả lời
Câu
Đáp án
1->8
1
2
3
4
5
6
7
8
D
C
C
A
C
C
B
B
9
- Tình huống truyện: Cậu bé chăn cừu nói dối là có chó sói đến bắt cừu nhiều lần và cuối cùng, có chó sói đến thật
- Phân tích tình huống truyện: Cậu bé chăn cừu nói dối có chó sói đến bắt cừu để trêu đùa mọi người, mua vui cho mình. Hai lần đầu cậu bé nói dối, dân làng đều tin và đến giúp đỡ cậu bé nhưng đến lần thứ ba, cậu bé nói thật thì không ai tin cậu nữa và đàn cừu bị tan tác. Từ đó, nêu lên bài học đạo đức cho con người.
10
Bài học: Cần phải trung thực, không nên nói dối. Vì: nói dối là một thói quen xấu, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, nó sẽ làm mất niềm tin của mọi người đối với mình, từ đó dù mình có nói thật thì mọi người sẽ không tin mình nữa; khi gặp khó khăn, cũng không ai giúp đỡ mình, mọi người sẽ xa lánh mình, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách bản thân...
Đề số 4: Đọc đoạn trích sau:
[…] Tôi không hề biết tên loại cây này. Có thể đây là một loại cây mà trên mặt đất không có chăng? Khi đi lại đến gần, tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú.
Giáo sư Lidenbrock gọi ngay tên chúng:
* À, đây chỉ là một rừng nấm!
Nhưng thực vật ở đây không phải chỉ có những loài nấm ấy mà xa xa, chúng tôi thấy rất nhiều loài cây cao lớn khác thường mọc thành từng nhóm.
- Thật kì dị, nhưng huy hoàng và tráng lệ! – chú tôi kêu lên – Đây chính là toàn bộ hệ thực vật của thời kì chuyển tiếp của thế giới. Cháu hãy chiêm ngưỡng đi. Không một nhà thực vật học nào gặp một dịp may hiếm như vậy đâu!
- Hình như thượng đế muốn giữ trong cái nhà kính bao la này những loài cây trước thời hồng thuỷ.
- Nhà kính à? Nói đúng hơn thì đây cũng là một vườn thú!
- Sao chú lại nói vậy?
- À, cháu hãy nhìn kĩ đám cát bụi và những mảnh xương rải rác trên mặt đất kia xem!
- Trời! Xương cuả những động vật trước thời hồng thuỷ!
Tôi vội lao tới những tàn tích cổ đại, những cái xương khổng lồ đã hoá thạch trông giống những thân cây khô và kêu lên:
- Đây đúng là một vườn thú bởi những hài cốt này không phải do một tai biến vận chuyển đến đây mà thuộc những động vật đã từng sinh sống dưới bóng cây kì dị trên bờ biển ngầm này. Nhưng cháu không hiểu tại sao trong một cái hang đá hoa cương này lại có những động vật bốn chân ấy? Bởi vì đời sống động vật chỉ có trên trái đất ở thời kì thứ hai, khi đất trầm tích đã được hình thành do phù sa và đã thay thế các loại đá nóng sáng của thời kì nguyên thuỷ.
- Thắc mắc của cháu dễ giải đáp thôi. Sở dĩ có như vậy là vì mảnh đất này là đất trầm tích. Sự việc này có thể giải thích bằng địa chất học. Ở một thời kì nào đó, trái đất được bao bọc bởi một lớp đàn hồi, chịu tác dụng của những sự vận động lên xuống liên tục theo định luật hấp dẫn. Có thể xảy ra những sự lún sụt đất đai và một phần đất trầm tích đã bị cuốn xuống đáy những vực thẳm bỗng nứt ra ấy.
- Có thể như thế lắm. Nhưng nếu những quái vật trước thời hồng thuỷ đã từng sinh sống ở những vùng đất ngầm này biết đâu chẳng có một vài con đang lang thang trong những khu rừng âm u kia?
Tôi bỗng kinh hãi nhìn quanh khắp chân trời, nhưng không bắt gặp một quái vật nào trên bờ biển hoang vắng.
Cảm thấy mệt mỏi, tôi liền ngồi xuống một mỏm đá nhô ra biển và phóng mắt nhìn rộng ra khắp vịnh. Nơi đây, lọt thỏm giữa hai gò đá lớn, có một cảng nhỏ khuất gió, mặt nước phẳng lặng. Tôi mong nhìn thấy một con tàu nào đó đang xuôi theo gió, giong buồm ra khơi.
[…]
- Cứ thử xem, Axel ạ! Ta cần phải tìm hiểu thật cặn kẽ mọi bí mật của những vùng đất mới này.
- Nhưng hiện giờ chúng ta đang ở đâu?
- Ở cách Iceland ba trăm năm mươi dặm theo đường chim bay.
- Thế chúng ta đã xuống được bao sâu?
- Ba mươi lăm dặm.
- Vậy bây giờ chú định thế nào? Liệu chúng ta quay trở lại mặt đất không?
- Tại sao phải quay trở lại? Cho tới giờ phút này mọi việc vẫn trôi chảy cả, chúng ta không có lí do gì mà không tiếp tục lên đường.
(Trích Hành trình vào tâm trái đất, Jules Verne, Nhà xuất bản văn học, 2022, Hoàng Duy dịch)
*Tóm tắt tác phẩm: Hành trình vào tâm Trái Đất (tiếng Pháp: Voyage au centre de la Terre) là một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của Jules Verne xuất bản vào năm 1864. Câu chuyện kể về một giáo sư người Đức tin rằng có những miệng núi lửa có con đường đi thẳng xuống trung tâm Trái Đất. Ông, đứa cháu trai Axel, và người dẫn đường Hans của họ đã trải qua những chuyến phiêu lưu thú vị, gặp gỡ những con vật thời tiền sử cùng các thảm họa tự nhiên, cuối cùng đã quay lại được mặt đất ở miền nam nước Ý. Các sinh vật sống mà họ gặp phải phù hợp với từng thời kỳ địa chất, cũng như các lớp đá dần càng cổ hơn khi họ đi xuống càng sâu, những loài vật cũng xưa hơn khi các nhân vật tiến gần đến tâm Trái Đất.
Thực hiện các yêu cầu:
Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời mà em lựa chọn cho các câu hỏi từ câu 1 đến câu 8 vào bài làm. Với câu 9, 10 các em tự viết phần trả lời vào bài.
Câu 1. Đoạn trích trên thuộc thể loại văn học nào?
A. Cổ tích B. Truyền thuyết
C. Truyện ngắn D. Truyện khoa học viễn tưởng
Câu 2. Đoạn truyện kể về sự việc gì?
A. Nhân vật “tôi” chuẩn bị trở về nhà
B. Nhân vật “tôi” chứng kiến các tàn tích của thực vật và động vật trong lòng trái đất
C. Cuộc tranh luận của nhân vật “tôi” và giáo sư.
D. Nhân vật “tôi” đang chứng kiến đại dương ở trong lòng đất.
Câu 3. Người kể đoạn truyện trên kể ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi 1 B. Ngôi 2
C. Ngôi 3 D. Không xác định được.
Câu 4: Đoạn trích trên khắc họa nhân vật bằng cách nào?
A. Qua ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật
B. Qua ngôn ngữ độc thoại của các nhân vật
C. Qua hành động, cử chỉ, điệu bộ và lời nói của các nhân vật
D. Qua suy nghĩ của nhân vật
Câu 5: Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong đoạn trích trên:
A. Biểu đạt ý còn nhiều sự việc chưa liệt kê hết
B. Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng
C. Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt
D. Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở, ngập ngừng hay ngắt quãng
Câu 6: Theo nhận định của giáo sư, vì sao lại có sự xuất hiện của những động vật bốn chân trong một cái hang trong lòng đất, cách mặt đất vài chục dặm?
A. Vì trong lòng đất có sự sống giống như trên mặt đất
B. Vì những sự lún sụt đất đai và một phần đất trầm tích trên mặt đất đã bị cuốn xuống đáy những vực thẳm bỗng nứt ra trên mặt đất..
C. Vì đất trầm tích đã được hình thành do phù sa và đã thay thế các loại đá nóng sáng của thời kì nguyên thuỷ.
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 7: Trong đoạn trích, các nhân vật đang ở độ sâu nào?
A. Ba mươi lăm dặm
B. Cách Iceland ba trăm năm mươi dặm theo đường chim bay.
C. Sáu mươi lăm dặm
D. Đoạn trích không nhắc đến
Câu 8: Trạng ngữ trong câu: “Cảm thấy mệt mỏi, tôi liền ngồi xuống một mỏm đá nhô ra biển và phóng mắt nhìn rộng ra khắp vịnh.” có tác dụng:
A. Chỉ thời gian
B. Chỉ nơi chốn
C. Chỉ mục đích
D. Chỉ nguyên nhân
Câu 9. Câu trả lời của giáo sư ở cuối đoạn trích: “Tại sao phải quay trở lại? Cho tới giờ phút này mọi việc vẫn trôi chảy cả, chúng ta không có lí do gì mà không tiếp tục lên đường.” gợi cho em suy nghĩ gì về vị giáo sư này?
Câu 10. Dù không dựa trên cơ sở khoa học thực tế nhưng Hành trình vào tâm trái đất vẫn có những sự hấp dẫn đặc biệt của nó. Theo em điều gì đã làm nên sức hấp dẫn đó? Từ tác phẩm, gợi cho em suy nghĩ gì về ý nghĩa của việc khám phá bí ẩn của thế giới tự nhiên?
Gợi ý trả lời
Câu
Đáp án
1->8
1
2
3
4
5
6
7
8
D
B
A
A
C
B
A
D
9
- Câu trả lời của giáo sư ở cuối đoạn trích: “Tại sao phải quay trở lại? Cho tới giờ phút này mọi việc vẫn trôi chảy cả, chúng ta không có lí do gì mà không tiếp tục lên đường.” gợi cho em suy nghĩ:
+ Giáo sư là người kiên trì, quyết tâm thực hiện mục tiêu mà mình đang theo đuổi. Dù hành trình khám phá đầy mới mẻ, chưa biết điều gì sẽ đón nhận mình ở phía trước, dù cho người xung quanh đã có phần nao núng, muốn quay trở về nhưng giáo sư vẫn quyết tâm tiếp tục lên đường.
+ Giáo sư là người đam mê khoa học, thích tìm tòi khám phá với những chuyến phiêu lưu mạo hiểm, quyết tâm chinh phục hành trình vào tâm trái đất của mình
10
- Sức hấp dẫn của câu chuyện:
+ Sự tưởng tượng kì diệu, phong phú về thế giới bên trong lòng đất – nơi mà loài người chưa từng đặt chân đến.
+ Ngôn ngữ kể chuyện hấp dẫn, tạo thành nhiều tình huống li kì, thu hút sự chú ý của người đọc.
+ Câu chuyện có sức giáo dục người đọc: Bằng cách đưa các sinh vật đã tuyệt chủng vào đúng thời kỳ địa chất của chúng, ông đã cho người đọc một cách hình dung về thế giới cổ đại, từ kỷ băng hà cho đến thời kỳ khủng long.
- Ý nghĩa của việc khám phá bí ẩn của thế giới tự nhiên:
+ Cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về thế giới xung quanh chúng ta, những điều đã trải qua, những điều đang tồn tại, những điều sẽ xảy ra trong tương lai.
+ Giúp chúng ta có cách ứng xử đúng đắn với tự nhiên trong hiện tại và tương lai.
+ Có những biện pháp phòng tránh, hạn chế tối đa những rủi ro trước những hiểm hoạ trong tự nhiên
Đề số 5: Đọc đoạn trích sau:
[...] Khi đủ bình tĩnh để nhìn đồng hồ, tôi không khỏi sửng sốt. Một đồng hồ chỉ ngày, một đồng hồ chia đơn vị là một ngàn ngày, một đồng hồ triệu ngày, một đồng hồ tỉ ngày. Thay vì kéo ngược cần số, tôi đã đẩy chúng đi tới. Và tôi thấy kim chỉ ngàn đang quay nhanh như kim chỉ giây của một chiếc đồng hồ đeo tay – đến tương lại xa tít.
Tiếp tục đi tới, một đổi thay kì lạ phủ trùm lên vạn vật. Màu xám thấp thoáng trở thành đậm hơn: rồi – mặc dù tôi vẫn đi tới với thời tốc thật nhanh – những thay đổi nhấp nháy giữa ngày đêm, dấu hiệu của một thời tốc thấp hơn, trở lại càng lúc càng rõ rệt. Thoạt đầu hiện tượng này khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Sự thay đổi giữa ngày đêm xảy ra chậm hơn, cùng với sự di chuyển của ánh mặt trời, đến một lúc như mỗi chu kì kéo dài đến mấy trăm năm. Cuối cùng, trái đất chỉ còn một ánh mờ liên tục, gián đoạn thỉnh thoảng bởi sự xuất hiện của những ngôu sao chổi soi sáng khoảng trời đen. Luồng sáng, dấu vết của mặt trời đã biến mất hẳn, vì mặt trời không còn lặn nữa – nó chỉ nhô lên hụp xuống ở phía tây, đồng thời trở thành lớn hơn và đỏ hơn. Tất cả mọi dấu vết của mặt trăng cũng đã biến mất. Những chuyển động xoay tròn càng lúc càng chậm của các vì sao bị thay thế bởi vô vàn điểm sáng.
Một khoảng thời gian trước khi tôi dừng lại, mặt trời – đỏ và rất lớn – nằm bất động ở chân trời, như một cái vòm vĩ đại, lung linh với một sức nóng yếu ớt, và thỉnh thoảng tắt ngấm hoàn toàn. Có một lúc nó chiếu ra ánh sáng mạnh hơn, nhưng rồi thật nhanh chóng lại trở về ánh sáng đỏ muộn sầu. Dựa theo sự lên xuống chậm lại của mặt trời, tôi đoán là hiện tượng thủy triều không còn nữa. Trái Đất đã thôi quay, với một mặt hướng về mặt trời, có thể y hệt như mặt trăng đối với trái đất trong thời của chúng ta. Hết sức thận trọng – vì nhớ lại lần bị té trước – tôi bắt đầu kéo cần số ngược lại. Những kim đồng hồ chạy chậm dần, cho đến khi kim chỉ ngàn ngày gần như đứng yên và kim chỉ ngày không chỉ còn là một ánh sương mù trên mặt đồng hồ. Chậm hơn nữa, cho đến khi những đường nét của một bãi biển hoang vu trở thành rõ rệt.
[...]
Tôi không thể diễn tả nỗi hoang vu ghê rợn chế ngự mặt địa cầu. Bầu trời đó phía đông, màu đen phía bắc, vùng biển chết, bờ đá đầy những con quái vật dơ bẩn bò run rẩy chậm chạp, màu xanh trải đều như thuốc độc của những loại rong rêu, bầu không khí loãng làm phổi người ta đau nhức: tất cả tạo thành một cảm giác rùng rợn. Tôi đi tới một trăm năm nữa. Mặt trời vẫn đó – lớn hơn, và mờ hơn một chút. Vẫn vùng biển chết, vẫn bầu không khí lạnh lẽo, vẫn đám quái vật có vỏ cứng bò đó đây giữa rêu xanh đá đỏ. Ở bầu trời phía tây, tôi thấy một đường cong nhạt, có lẽ của một vầng trăng thượng tuần khổng lồ.
[...]
Cuối cùng, sau hơn 30 triệu năm, cái vòm khổng lồ của mặt trời đã chiếm khoảng mười phần trăm của bầu trời đen. Tôi dừng lại lần nữa vì thấy đám cua đỏ lổn ngổn đã biến mất. Bãi biển đỏ, ngoại trừ những mảng rong rêu xanh mét, không còn một dấu hiệu nào của sự sống. [...]
(Trích Cỗ máy thời gian, Herbert Geogre Wells, NXB Hà Nội, 2017, Như Hà dịch)
*Tóm tắt: Cỗ máy thời gian (The Time Machine, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của H.G. Wells. Câu chuyện kể về một nhà khoa học thời Victoria, người tuyên bố rằng ông đã phát minh ra một thiết bị cho phép ông du hành xuyên thời gian và đã đến thăm tương lai, đến vào năm 802.701 ở nơi từng là London. Ở đó, ông ta tìm thấy chủng tộc trong tương lai, hay chính xác hơn là các chủng tộc, bởi vì loài người đã phát triển thành một dạng khác nhau. Trên mặt đất là nơi sinh sống của những sinh vật Eloi hiền lành, giống như cổ tích, trẻ con, sự tồn tại của nó không có sự đấu tranh. Tuy nhiên, một chủng tộc khác tồn tại, tộc Morlocks, những cư dân dưới lòng đất, từng là người sống sót, giờ là con mồi của Eloi yếu đuối, không phòng bị. Ông tiếp tục thực hiện những chuyến ghé thăm ngắn hạn qua thời gian, thấy vòng quay của Trái đất dần dần chấm dứt và cả thế giới rơi vào im lặng và giá lạnh như một sinh vật sống cuối cùng đang bị thoái hóa. Vô cùng sửng sốt, ông đi lại vào máy và quay về Victoria, đi đến phòng thí nghiệm của mình ở Richmond (kể từ khi ông đi du hành trong thời gian, không gian) chỉ ba giờ sau khi ông rời đi. Đoạn trích trên kể về việc người du hành thời gian chứng kiến trái đất và các loài sinh vật bị diệt vong trong tương lai.
Thực hiện các yêu cầu:
Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời mà em lựa chọn cho các câu hỏi từ câu 1 đến câu 7 vào bài làm. Với câu 8, 9, 10 các em tự viết phần trả lời vào bài.
Câu 1. Ý nào nói đúng nhất về phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:
A. Tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm
B. Tự sự kết hợp với nghị luận, miêu tả
C. Tự sự kết hợp với thuyết minh, biểu cảm
D. Chỉ sử dụng phương thức biểu đạt tự sự
Câu 2. Đoạn truyện kể về sự việc gì?
A. Nhân vật “tôi” kể về thế giới trong lòng đất.
B. Nhân vât “tôi” kể về cuộc sống con người trong tương lai
C. Nhận vật “tôi” kể về thời kì trái đất diệt vong trong tương lai
D. Nhân vật “tôi” kể về cỗ máy thời gian có thể đi đến tương lai dễ dàng.
Câu 3. Người kể đoạn truyện trên kể ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi 1 B. Ngôi 3
C. Ngôi 1 và ngôi 3 D. Không xác định được.
Câu 4. Theo lời kể của nhân vật tôi, trong thời gian mà trái đất và các sự vật đều đã bị diệt vong, nhân vật “tôi” tìm thấy dấu hiệu của sự sống duy nhất ở:
A. Mặt trời
B. Mặt trăng
C. Đám cua đỏ
D. Mảng rêu màu xanh
Câu 5. Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong đoạn trích trên:
A. Biểu đạt ý còn nhiều sự việc chưa liệt kê hết
B. Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng
C. Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt
D. Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở, ngập ngừng hay ngắt quãng
Câu 6. Theo đoạn trích, những dấu hiệu nào cho thấy thế giới đi vào thời kì diệt vong?
A. Trái đất đã thôi quay, với một mặt hướng về mặt trời.
B. Mặt trời nằm bất động ở chân trời, như một cái vòm vĩ đại, lung linh với một sức nóng yếu ớt, và thỉnh thoảng tắt ngấm hoàn toàn.
C. Những loài sinh vật biến mất ngoại trừ những đám rêu màu xanh
D. Tất cả các dấu hiệu trên
onthicaptoc.com Doc hieu the the loai Van 7
PHẦN ĐỌC HIỂU
PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
ÔN TẬP
TIẾNG NÓI VẠN VẬT
VĂN BẢN 1: LỜI CỦA CÂY
(Trần Hữu Thung)
Môn: Ngữ văn 7 - Năm học: 2023– 2024
(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề)
ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Ôn tập cơ bản và nâng cao về đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại toàn bộ các thể loại HS được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 gồm:
ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: