TÀI LIỆU ÔN HÈ LỚP 7 LÊN 8 BỘ SÁCH CÁNH DIỀU
PHẦN ĐỌC HIỂU
STT
NỘI DUNG
GHI CHÚ
1
Truyện ngắn
2
Thơ bốn chữ, năm chữ
3
Truyện khoa học viễn tưởng
4
Nghị luận văn học
5
Văn bản thông tin
6
Truyện ngụ ngôn và tục ngữ
7
Thơ
8
Văn bản nghị luận xã hội
9
Tản văn, tùy bút
10
Văn bản thông tin
PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
STT
NỘI DUNG
GHI CHÚ
1
Ngôn ngữ vùng miền
2
Phép tương phản và câu hỏi tu từ
3
Số từ và phó từ
4
Mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm chủ vị
5
Mở rộng trạng ngữ
6
Tục ngữ, thành ngữ;Nói quá, nói giảm – nói tránh
7
Ngữ cảnh và nghĩa của từ trong ngữ cảnh; Dấu chấm lửng
8
Liên kết, mạch lạc trong văn bản
9
Từ Hán Việt
10
Thuật ngữ
PHẦN TẬP LÀM VĂN
STT
NỘI DUNG
GHI CHÚ
1
Viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
2
Tập làm thơ bốn chữ, năm chữ; Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ, năm chữ
3
Viết bài văn biểu cảm về một người hoặc sự việc
4
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật
5
Viết văn bản thuyết minh về quy tắc, luật lệ của một hoạt động hay trò chơi
6
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật
7
Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ
8
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống
9
Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc
10
Tóm tắt văn bản theo yêu cầu khác nhau về độ dài
ÔN TẬP CỤ THỂ PHẦN ĐỌC HIỂU
1
Truyện ngắn
I. CỦNG CỐ TRI THỨC ĐỌC HIỂU
1, Tính cách nhân vât, bối cảnh.
Tính cách nhân vật trong truyện (truyện ngắn và tiểu thuyết) thường được thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của nhân vật; qua nhận xét của người kể chuyện và các nhân vật khác.
Ví dụ: Võ Tòng trong văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng”( trích tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi) không chỉ được mô tả thể hiện qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ của nhân vật này mà còn được hiện qua lời của người kể chuyện xưng tôi và lời của các nhân vật khác trong truyện.
Bối cảnh trong truyện thường chỉ hoàn cảnh xã hội của một thời kỳ lịch sử nói chung( bối cảnh lịch sử); thời gian và địa điểm, quang cảnh cụ thể xảy ra câu chuyện( bối cảnh riêng)
2, Tác dụng của việc thay đổi ngôi kể.
Một câu chuyện có thể thay đổi ngôi kể để việc kể được linh hoạt hơn.
II. LUYỆN TẬP
Đề số 1: Đọc đoạn trích sau và trà lời các câu hỏi:
Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày, ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê. Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu; cả lớp tôi đều có thiện cảm với cậu, trừ những đứa độc ác vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của chúng; mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé,mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.
Bố Ga-ro-nê là thợ máy xe lửa. Vì bị ốm liền hai năm, nên Ga-ro-nê đi học hơi chậm. Nay cậu là người lớn và khoẻ nhất lớp; cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi... Khoẻ vậy, mà lại tốt nữa... Ai hỏi bất cứ cái gì: con dao, cây bút, cái tẩy, tờ giấy, cậu vui vẻ cho mượn hoặc cho hẳn ngay. [...] Thứ Bảy tuần trước, cậu đã cho một học sinh lớp Một hai xu, vì cậu này đểai lấy mất tiền, không có để mua cuốn vở. Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư dài tám trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ. Bà mẹ của Ga-ro-nê, một người cao, béo, rất dễ mến, thường hay đến trường đón con. Thầy giáo nhìn Ga-ro-nê vẻ hiền từ và mỗi khi đến gần thầy lại tát yêu vào má cậu. Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro-nê lắm! Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó! Giọng nói của cậu tuy hơi cộc, nhưng người ta cảm thấy rằng đó là tiếng vọng của một tấm lòng cao thượng và hào hiệp.
(Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, Bạn Ga-ro-nô còn lôi, trích Nnững lấm lòng cao cả, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 2016, tr. 41 - 42)
1, Tình cảm của nhân vật tôi với bạn Ga-ro-nê như thế nào? Những chi tiết nào trong văn bản trực tiếp thể hiện tình cảm của nhân “tôi” với bạn Ga-ro-nê?
2, Thái độ của Thái độ của các bạn trong lớp và thầy giáo đối với Ga-ro-nê như thế nào?.
3, Nêu cảm nhận của em với nhân vật Ga-ro-nê trong đoạn trích
4, Em biết nhân vật văn học nào có tính cách giống như bạn trong đoạn trích?. Hãy viết đoạn văn khoảng( 5-7 câu) để giới thiệu về nhân vật đó?.
5, So sánh các cặp câu dưới đây và nhận xét về tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ và thành phẩn chính của câu bằng cụm từ.
a) Thứ Bảy, cậu đã cho một học sinh lớp một hai xu, vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có để mua cuốn vở.
- Thứ Bảy tuần trước, cậu đã cho một học sinh lớp một hai xu, vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có để mua cuốn vở.
b) - Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư, để mừng sinh nhật của mẹ.
- Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư dài tám trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ.
a) - Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro-nê!
- Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro-nê lắm!
Hướng dẫn:
1, Nhân vật “tôi” vô cùng yêu quý bạn Ga-ro-nê. Một số chi tiết thể hiện điều đó:
- Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày, ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê.
* Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.
* Tất nhiên, tôi yêu -ợn Ga-ro-nê lâm!
* Tôi rất vuì thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay minh.
2, Tìm các chi tiết trong văn bản cho thấy thái độ của các bạn và thay giáo đối với Ga-ro-nê. Ví dụ: cả lớp tôi đều có thiện cảm với cậu; Thầy giáo nhìn Ga-ro-nê vẻ hiền từ và mỗi khi đến gần thầy lại tát yêu vào má cậu.
3, Em cần dựa những chi tiết miêu tả hành động của Ga-ro-nê, tình cảm và thái độ của mọi người với Ga-ro-nê để nêu cảm nhận của em về nhân vật. Có thể là: Ga-ro-nê rất đáng yêu. Cậu là một người tốt bụng, hồn nhiên, hào hiệp và giàu tình cảm.
4, Em cần lưu ý:
* Viết một đoạn văn với dung lượng khoảng 5-7 câu.
* Nội dung của đoạn văn : giới thiệu một nhân vật văn học có tính cách giống như nhân vật Ga-ro-nê.
* Em có thể viết đoạn văn theo các bước: chọn một nhân vật văn học trong tác phẩm em đã học hoặc đọc có nét tính cách giống như nhân vật Ga-ro-nê (tốt bụng, hổn nhiên, giàu tình cảm); viết nháp một vài từ miêu tả đặc điểm nổibật của nhânvật; diễn đạt thành một đoạn văn hoàn chỉnh. Gợi ý một số nhân vật trong các văn bản em đã học: nhân vật Sơn (Gió lạnh đầu mùa), nhân vật mèo Gióc-ba (Chuyện con mèo dạy hải âu bay), nhân vật Tốt-tô-chan (Tốt-tô-chan bên cửa sổ),...
5, So sánh các cặp câu và nhận xét về tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ và thành phần chính của câu bằng cụm từ.
a. Thành phần trạng ngữ thứ Bảy tuần trước cung cấp thông tin thời gian cụ thể hơn là thứ Bảy.
b. Thành phần vị ngữ đang bận viết một bức thư dài tám trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ cung cấp thông tin cụ thể hơn về đặc điểm của bức thư (độ dài, hình thức) so với vị ngữ đang bận viết một bức thư.
c. Thành phần vị ngữ yêu bạn Ga-ro-nê lắm cung cấp thêm thông tin về mức độ tình cảm mà nhân vật “tôi” dành cho Ga-ro-nê so với vị ngữ yêu bạn Ga-ro-nê.
Đề số 2: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới sau đó ghi vào vở chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi (từ câu 1 đến câu 8):
ĐI CÂU RẮN
(Trích “Đất rừng phương Nam” – Đoàn Giỏi)
“Má nuôi tôi là một người thuộc khá nhiều chuyện cổ tích và biết hầu hết mọi cung cách làm ăn của những người nông dân nghèo ở khắp mọi vùng Nam Bộ. Có điều là trong tất cả những mẩu chuyện bà kể, chuyện nào cũng pha đượm ít nhiều tính chất thần bí, và bà tin tưởng một cách ngây thơ ở mệnh trời. Dù vậy tôi cũng thích nghe, thích gợi cho má nuôi tôi kể để tôi nghe say mê...
Tía nuôi tôi hiền lành, ít nói. Ông thường ngồi lặng lẽ đánh những sợi dây gai hoặc giũa lưỡi câu, miệng không rời cái tẩu thuốc lá hình thù kỳ dị làm bằng một gốc ớt hiểm rừng. […]
Tía nuôi tôi đi cà nhắc đến ngồi trên một gốc cây cắt ngang giống như một cái đòn sù sì đặt bên cạnh bếp lửa, xem chúng tôi chuẩn bị mồi câu. Thằng Cò muốn chứng minh lời khen của má, hay cố biểu diễn cho tôi phục nó thì không biết, mà nó làm coi thạo lắm. Nó dùng hai ngón tay banh họng con cá, nhét vào họng mỗi con một quả ớt hiểm chín.
- Ê nướng đi mậy, An? - nó bảo tôi.
- Làm sao nướng đây?
- Lấy cái que xiên bụng nó, kê lên than nướng chứ còn làm sao? Nướng mồi mà cũng không biết!
Nó vót nhọn đầu cái que, xóc ngang con cá mồi, trao cho tôi. Tôi đặt lên than hồng một chốc, con thòi lòi ngậm quả ớt bèn nhe mồm ra, lưng vểnh cong; từ trong họng con cá vàng rộp đó mỡ bắt đầu chảy ra, nhiểu xuống than cháy nghe xèo xèo. Tôi nuốt nước miếng đánh ực một cái:
- Eo ôi, thơm quá!
Thằng Cò cười lớn:
- Mình ngửi mùi cá nướng còn phát thèm, huống gì con rắn?
- Ừ thứ mồi này nhậy lắm. Đêm nay, hai đứa bay ít ra cũng kiếm được năm bẩy con cỡ bắp chân... Cái thứ mồi nhái sống gặp nước bơi lom xom thì chỉ tổ quện cá lóc tới phá mất? - tía nuôi tôi cười hà hà. Khói thuốc lá vón quanh đôi mắt to, sáng lóng lánh. Ông vui vẻ nói tiếp:
- Thằng An mới ra nghề đêm đầu tiên, đừng có xách giỏ về không đấy, con ạ.”
Ông kéo thúng gai đến bên chân, cầm lên vuốt từng sợi gai, sau đó lại rút cái giũa giắt bên vách ra giũa lại những chiếc lưỡi câu lụt. Tôi hỏi:
- Tía không đánh gai lại cho săn à, tía?
Thằng Cò cười hì hì:
- Vậy mà mày cái gì cũng khoe giỏi? Tưởng cái gì trong sách của mày cũng có hử? Tía ơi, đừng bày cho nó nghe tía!
Tía nuôi tôi vỗ vỗ đầu thằng Cò:
- Nó không biết thì phải bảo cho nó chứ. Có ai mẹ đẻ ra không học mà biết được!
Ông cầm một cuộn gai ước chừng bốn năm mươi sợi, to như cổ tay tôi, toàn là những sợi gai rời nhau, dài hơn thước, thong thả buộc chùm hai đầu lại, một đầu buộc vào chiếc lưỡi câu có ngạnh rất sắc. Ông vừa cuốn chùm gai vòng quanh cổ tay làm như bộ con rắn quấn, vừa giảng giải:
- Rắn không có tay có chân, nhưng nó khỏe nhờ sức quấn của xương sống. Con trăn bắt nai, quấn con mồi siết chặt mãi, bao giờ mềm, giập hết xương, nó mới nuốt. Thứ rắn rằn ri cóc, có con to cỡ bắp vế, ở dưới nước nó còn khỏe hơn con trăn! Khi mắc câu, nó cuốn dây câu và vặn mình xoay vòng siết lại mãi, dây to đến mấy cũng phải đứt. Nhưng loài vật làm sao khôn hơn người được! Đây An, con xem đây! Toàn là những sợi gai rời. Hễ bắt đầu quấn thì gai mới bắt đầu săn. Càng quấn càng săn một lúc, thấy chưa đứt, nó bèn xoay ngược lại. Tức thời cuộn gai lại tháo ra. Cứ thế quấn và tháo ra suốt đêm, chùm gai câu vẫn trơ nguyên, không đứt một sợi?
Khi tía nuôi tôi kiểm tra tất cả những cuộn gai và ướm xong từng lưỡi câu rồi, ông bèn bảo chúng tôi đi dằn bụng cho no, kẻo thức khuya mau đói lắm. Chúng tôi ăn cơm xong thì má nuôi tôi đã ôm nõ, đèn soi, mác và một cái giờ tre to tướng bỏ xuống xuồng rồi.
Bây giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ thẫm cuối dải rừng xa. Xuồng chúng tôi lướt qua một quãng sông, hai bên bờ lau sậy mọc rậm rịt. trước mắt tôi dần dần mở ra một mảng trời vàng rực. Ánh sáng lấp lánh màu bụi vàng kim loại tỏa thành những đường dài rẽ quạt chạy tháng lên không. Một bầy cò nối đuôi nhau bay theo hình mũi tên, trông mệt mỏi vội vàng, những đầu cánh trắng nặng nề nhún lên nhún xuống quạt gió lướt đi cứ như vương vướng những tia vàng hấp hối khiến chúng không bay mau được. Xuồng vẫn trôi băng băng.
Một lúc lâu, qua khỏi cánh đồng ngập tím một màu hoa lục bình, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang. Trời đã tối, những cành lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít, không để một tia sáng nhỏ lờ mờ của một bóng sao nào lọt xuống được. Tối như bưng mắt. Cái mẻ hun đặt trước mũi xuồng cứ phả khói mù mịt khiến tôi gần như ngạt thở. Tôi khom người chồm tới, thổi phù phù mấy cái vào những dầu củi ngún lem nhem. Lửa phụt nháy lên những ngọn mảng như lụa đỏ, chao qua chao lại. Ánh lửa soi sáng hai bên cành lá rậm rịt, vụt kéo trở về những mảng màu xanh lục, đỏ, vàng, lốm đốm của những hình hoa lá bị nhấn chìm trong bóng tối đen ngòm.”
(Trích Chương 8, “Đất rừng phương Nam”, Đoàn Giỏi – NXB Kim Đồng 2019)
1, Đề tài của văn bản trên là
A. những đặc trưng của vùng đất phương Nam.
B. đặc điểm của con người Nam Bộ.
C. con người và thiên nhiên đất rừng phương Nam.
D. cách thức sinh tồn của người Nam Bộ.
2. Chủ đề của văn bản trên là
A. con người Nam Bộ chất phác, mộc mạc, phóng khoáng, hiểu và sống gần gũi với thiên nhiên; thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ, trù phú, hào phóng với con người.
B. cuộc sống mưu sinh vất vả, lối sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, tình yêu và niềm tự hào tha thiết của người phương Nam với quê hương xứ sở.
C. cuộc sống mưu sinh vất vả, lối sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên của người dân Nam Bộ; thiên nhiên Nam Nộ hoang dã, luôn thử thách con người bằng sự hung bạo, hùng vĩ của nó.
D. con người Nam Bộ vất vả, trung thực và sống gần gũi với thiên nhiên, nương tựa vào sự hào phóng của thiên nhiên.
3. Đâu là phương án nói đúng về tính cách của nhân vật “má nuôi” trong đoạn trích trên?
A. Là người phụ nữ Nam Bộ tần tảo, ít nói nhưng rất yêu thương gia đình.
B. Là người phụ nữ nông dân nghèo khó, luôn chắt chiu tần tảo để chăm lo đủ đầy cho gia đình.
C. Là người phụ nữ Nam Bộ giàu tình yêu thương, luôn biết quan tâm, chăm sóc mọi người.
D. Là người phụ nữ nông dân Nam Bộ mộc mạc, hồn hậu, am hiểu mọi cách thức sinh sống ở đất rừng phương Nam.
4.Đâu là phương án nói KHÔNG ĐÚNG về tính cách của nhân vật “tía nuôi” trong đoạn trích trên?
A. Là người nông dân Nam Bộ điển hình, chân chất, mộc mạc, chăm chỉ và thành thạo mọi sinh kế.
B. Là người nông dân Nam Bộ điển hình, sống gắn bó với đất rừng quê hương, am hiểu sâu sắc về những sinh kế gắn liền với sự hào phóng của thiên nhiên.
C. Là người nông dân Nam Bộ sống nghĩa tình nồng hậu khi dành tình yêu thương, sự quan tâm cho đứa trẻ lang thang (An) mình nhận về làm con nuôi.
D. Là người nông dân Nam Bộ kiên cường, bản lĩnh, chiến thắng sự hung dữ và bạo tàn của thiên nhiên.
5. Đâu là phương án chính xác nhận xét về tính cách của nhân vật Cò trong đoạn trích trên?
A. Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam nên quen thuộc và khá am hiểu những sinh kế gắn với thiên nhiên nơi đây, đồng thời cậu bé cũng rất hiếu thắng, thích ganh đua với An.
B. Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam, sớm phải mưu sinh vất vả, cực nhọc nên có sự trầm tư không đúng với tuổi thật.
C. Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam, khỏe khoắn, tinh nghịch và thích trêu chọc, ganh đua với bạn.
D. Cả A, B, C đều đúng.
6. Đâu là phương án chính xác nhận xét về tính cách của nhân vật An thể hiện trong đoạn trích trên?
A. Là cậu bé hồn nhiên trong sáng, có kiến thức rộng mở, am hiểu nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là thiên nhiên và con người đất rừng phương Nam.
B. Là cậu bé hồn nhiên, luôn thích thú, tò mò trước những điều mới lạ, có khả năng tập trung quan sát và cái nhìn tinh tế với vẻ đẹp thiên nhiên rừng phương Nam.
C. Là cậu bé hồn nhiên trong sáng, luôn tò mò thích thú và muốn khám phá thiên nhiên xung quanh, thể hiện vốn sống và sự am hiểu của cậu về thiên nhiên.
D. Là cậu bé không được sinh ra ở đất rừng phương Nam nhưng lại gắn bó máu thịt với nơi đây nên có sự am hiểu sâu sắc với thiên nhiên và con người nơi đây.
7. Đâu là câu văn có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng một cụm từ?
A. Bây giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ thẫm cuối dải rừng xa.
B. Trời đã tối, những cành lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít, không để một tia sáng nhỏ lờ mờ của một bóng sao nào lọt xuống được.
C. Một lúc lâu, qua khỏi cánh đồng ngập tím một màu hoa lục bình, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang.
D. Khi tía nuôi tôi kiểm tra tất cả những cuộn gai và ướm xong từng lưỡi câu rồi, ông bèn bảo chúng tôi đi dằn bụng cho no, kẻo thức khuya mau đói lắm.
8. Cho câu văn sau. “Bây giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ thẫm cuối dải rừng xa”. Hãy chỉ ra thành phần được mở rộng bằng một cụm từ và tác dụng của việc mở rộng thành phần đó bằng cụm từ?
A. Thành phần chủ ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. khiến cho chủ thể được miêu tả chi tiết và cụ thể hơn.
B. Thành phần vị ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. bổ sung thông tin về đặc điểm và phương hướng của đối tượng “những đám mây” dưới tác động của động từ trung tâm “lặn”.
C. Thành phần chủ ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. khiến cho chủ thể “mặt trời” được miêu tả sinh động và chi tiết.
D. Thành phần vị ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. bổ sung thông tin về số lượng và mức độ của đối tượng chịu tác động từ động từ trung tâm “lặn”.
9. Cho câu văn sau. “những cành lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít”. Thành phần chủ ngữ trong câu văn trên được cấu tạo là
A. cụm danh từ. B. cụm tính từ. C. cụm chủ - vị. D. cụm động từ.
10. Cho câu văn sau. “Một bầy cò nối đuôi nhau bay theo hình mũi tên, trông mệt mỏi vội vàng, những đầu cánh trắng nặng nề nhún lên nhún xuống quạt gió lướt đi cứ như vương vướng những tia vàng hấp hối khiến chúng không bay mau được”. Câu văn trên sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. So sánh và ẩn dụ. B. Ẩn dụ và hoán dụ.
C. Nhân hóa và so sánh. D. Liệt kê và so sánh.
11. Đâu là phương án nhận xét chính xác về tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau. “Một lúc lâu, qua khỏi cánh đồng ngập tím một màu hoa lục bình, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang”.
A. Miêu tả thiên nhiên sinh động và hấp dẫn vẻ đẹp của thiên nhiên đất rừng phương Nam khi chiều muộn và đêm tối sắp đến.
B. Thể hiện sự quan sát tinh tế và cách hình dung đầy sinh động, cuốn hút của nhân vật An trước thiên nhiên đất rừng phương Nam.
C. Cho thấy cậu bé An thích thú và tò mò trước thiên nhiên đất rừng phương Nam hoang sơ, kì vĩ.
D. Miêu tả sinh động độ cao và sự rộng lớn của vòm cây (được ví với cái hang), qua đó cho thấy vể đẹp hoang sơ, hùng vĩ của thiên nhiên đất rừng phương Nam.
12. Câu văn nào KHÔNG sử dụng từ ngữ đặc trưng của địa phương Nam Bộ?
A. Ê nướng đi mậy, An?
B. Má nuôi tôi là một người thuộc khá nhiều chuyện cổ tích.
C. Ông bèn bảo chúng tôi đi dằn bụng cho no, kẻo thức khuya mau đói lắm.
D. Tưởng cái gì trong sách của mày cũng có hử?
13. Ở lớp 6 các em đã được học văn bản “Hồ Chí Minh và tuyên ngôn độc lập”, em hãy viết bài văn kể lại sự kiện Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập.
14. Hãy viết đoạn văn từ 5-7 câu tóm tắt nội dung của đoạn trích “Đi câu rắn”.
HƯỚNG DẪN:
1C, 2A, 3D, 4D, 5A, 6B, 7C, 8B, 9A, 10C, 11D, 12D,
13, a. Chuẩn bị
- Xác định yêu cầu của đề: kể lại một sự kiện lịch sử nổi tiếng.
- Hình thức: Bài văn (có đầy đủ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài)
- Ngôi kể: lựa chọn ngôi thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba.
- Thu thập tư liệu:
+ Đọc lại văn bản “Hồ Chí Minh và tuyên ngôn độc lập” ở SGK Ngữ văn 6 tập 1, bộ sách Cánh Diều.
+ Có thể tìm đọc thêm trên mạng internet hoặc xem các video về sự kiện lịch sử Bác hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập để có thêm thông tin.
+ Có thể sử dụng tranh ảnh để bài viết thêm sinh động.
b. Tìm ý
Tìm ý bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi sau:
+ Sự kiện lịch sử đó diễn ra ở đâu? Vào thời gian, không gian cụ thể nào?
+ Trong sự kiện lịch sử đó có những ai tham gia?
+ Diễn biến của sự kiện lịch sử đó gồm các sự việc gì? Những người tham gia có cảm xúc, suy nghĩ gì trước các sự việc đó?
+ Ý nghĩa của sự kiện lịch sử này với nhân dân đương thời, với đất nước và với chúng ta ngày hôm nay?
c. Lập dàn ý
+ Lập dàn ý theo các câu trả lời em đã làm cho phần tìm ý.
d. Viết bài và chỉnh sửa sau viết
+ Bám sát dàn ý để viết bài văn hoàn chỉnh, chú ý nhất quá trong việc lựa chọn ngôi kể xuyên sốt toàn bài văn.
+ Đọc lại bài viết và kiểm tra các ý đã đầy đủ và đúng trình tự ở dàn ý chưa. Đồng thời sửa các lỗi diễn đạt, lỗi dùng từ trong bài văn.
14, a. Xác định yêu cầu của đề
+ Dạng đề: tóm tắt văn bản theo một yêu cầu cụ thể về độ dài.
+ Yêu cầu về dung lượng: đoạn văn từ 5-7 câu.
b. Chuẩn bị trước khi tóm tắt
+ Đọc kĩ văn bản “Đi câu rắn”, tìm các ý chính trong từng phần hoặc đoạn và xác định mối quan hệ giữa các phần hoặc đoạn đó.
+ Gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đoạn trích.
+ Xác định các ý lớn và ý nhỏ của đoạn trích cho phù hợp với yêu cầu về độ dài của văn bản tóm tắt.
* Gợi ý:
Má nuôi An biết rất nhiều chuyện cổ tích và rành hầu hết “cung cách làm ăn của những người nông dân nghèo” ở vùng Nam Bộ. Còn tía nuôi là người hiền lành, ít nói, thành thạo mọi nghề. Để chuẩn bị cho chuyến đi câu rắn, Cò đã giục An đi nướng cá làm mồi câu, mùi cá nướng thơm phức khiến An “phát thèm”. Tía nuôi thành thạo “đánh gai” cho dây câu, trong lúc đó ông còn chỉ dạy chi tiết cho An nghe về ngón nghề câu rắn của người Nam Bộ. Trước khi trời tối, An và Cò “dằn bụng cho no” và chuẩn bị lên đường. Xuồng của An và Cò “trôi băng băng” qua dải kênh giữa hai bờ lau sậy dưới ánh hoàng hoang vàng rực. Cuối cùng xuồng trôi đến một “vòm cây đen thẳm như một cái hang” và trời chính thức tối hẳn, ngọn lửa được An thắp lên đã giúp cậu soi rõ những cành lá rậm rịt hai bên.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
“Một người đàn ông dừng lại trước cửa hàng bán hoa để đặt mua hoa và gửi điện hoa về cho mẹ, người đang sống cách anh 200 dặm. Khi bước ra khỏi ôtô, anh chú ý đến một bé gái đang ngồi khóc nức nở. Anh đến để hỏi xem có điều gì không ổn và bé gái trả lời: “Con muốn mua tặng một bông hồng đỏ cho mẹ. Nhưng con chỉ có bảy mươi lăm xu, mà một bông hồng giá tớihai đô la.”
Người đàn ông mỉm cười rồi nói: “Lại đây nào, chú sẽ mua cho con một bông hồng”. Anh mua cho bé gái một bông hồng và đặt hoa gửi tặng mẹ anh. Khi họ chuẩn bị đi, anh đề nghị được đưa cô bé về nhà. Bé gái trả lời: “Vâng ạ. Chú có thể dẫn cháu đến gặp mẹ cháu”. Cô bé chỉ đường cho anh tới một nghĩa trang rồi cô đặt bông hồng lên trên một phần mộ mới xây.
Người đàn ông quay lại tiệm hoa, hủy bỏ dịch vụ điện hoa, rồi cầm bó hoa và lái xe hơn 200 dặm để về nhà tặng mẹ anh.
(Trích Quà tặng cuộc sống)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản.
Câu 3. Theo em, vì sao người đàn ông ban đầu đã đặt dịch vụ điện hoa gửi về cho mẹ, sau đó hủy bỏ dịch vụ điện hoa, rồi cầm bó hoa và lái xe hơn 200 dặm để về nhà tặng mẹ anh?
Câu 4. Từ nội dung văn bản ở phần Đọc - hiểu cùng với sự tưởng tượng của mình, em hãy viết một đoạn văn ngắn (3-5 câu) kể tiếp phần sau của câu chuyện đó.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: tự sự
Câu 2 : Câu chuyện kể về tình cảm yêu thương, kính trọng, biết ơn…của những người con dành cho mẹ.
Câu 3:
- Người đàn ông nhớ mẹ đã mua hoa gửi về tặng mẹ vì bận công việc. Nhưng khi chia sẻ với cô bé có mẹ mất sớm thì anh nhận ra tình yêu người con dành cho mẹ không chỉ là những bông hoa hoa mà còn là nỗi nhớ thương. Anh thay đổi quyết định ban đầu, muốn tự lái xe về nhà để gặp mẹ vì anh nhận thấy khi còn mẹ là niềm hạnh phúc nhất và thứ mẹ anh muốn là được gặp anh chứ không phải chỉ đơn giản là những thứ vật chất.
Câu 3
HS có thể tưởng tượng linh hoạt phần kết truyện phù hợp với diễn biến có sẵn của câu chuyện.
- Trong phần kể của học sinh kể linh hoạt nhưng cần thể hiện được một số nội dung cơ bản để toát lên tình cảm của con dành cho mẹ và mẹ dành cho con. Từ đó cho thấy tình mẫu tử vô cùng thiêng liêng…. Ví dụ HS có thể kể tiếp:
- Tình cảm yêu kính của người con( người đàn ông) đi hai trăm cây số để về thăm mẹ như thế nào?
- Cảm xúc của người mẹ như thế nào khi thấy con về ….
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới:
ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN
Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa. Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.
- Cháu hát hay quá, một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền chậm rãi bước đi.
Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước. Khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại một mình chậm rãi bước đi. Như vậy, nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không. Cô hỏi mọi người trong công viên về ông cụ:
- Ông cụ bị điếc ấy ư? Ông ấy đã qua đời rồi, một người trong công viên nói với cô.
Cô gái sững người, bật khóc. Hóa ra, bao nhiêu năm nay, tiếng hát của cô luôn được khích lệ bởi một đôi tai đặc biệt: đôi tai của tâm hồn. Tài liệu của Nhung tây
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 3. Tình huống bất ngờ trong câu chuyện là sự việc nào?
Câu 4. Ý nghĩa mà câu chuyện gửi tới chúng ta là gì?
Gợi ý trả lời
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Tự sự:
Câu 2. Ngôi kể: Thứ ba. Tác dụng: làm cho câu chuyện khách quan, hay hơn
Câu 3. Tình huống bất ngờ trong câu chuyện: Cô gái sững người khi nhận ra người bấy lâu nay luôn khích lệ, động viên cho giọng hát của cô lại là một ông cụ bị điếc
Câu 4. Ý nghĩa câu chuyện gửi tới người đọc:
- Trước khó khăn, thử thách, con người cần có niềm tin, nghị lực vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh.
- Truyện còn đề cao sức mạnh của tình yêu thương con người.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Các bạn lớp tôi thường gọi Lộc là “Lộc còi” vì Lộc bé lắm, mười một tuổi mà bằng đứa chín tuổi. Hẳn vì “còi” nên Lộc có vẻ yếu, thường hôm nào học năm tiết, tiết học hát cuối cùng là Lộc hát chẳng ra hơi, có khi cứ dựa vào tập thể mà Lộc chỉ lí nhí hoặc mấp máy mồm hát theo thôi. Người ta bảo thể lực yếu thì thường học kém, thế mà Lộc học chẳng kém. Còn tôi, trông tôi có vẻ cao lớn hơn Lộc thì học lại chẳng giỏi giang gì. Tôi kém nhất là môn Toán. Cô giáo phân công Lộc giúp đỡ tôi về môn này. Không hiểu sao, mỗi lần giúp tôi học, Lộc thích đến nhà tôi hơn là tôi đến nhà Lộc. Nói cho đúng thì từ đầu năm học, tôi chưa đến nhà Lộc lần nào. Tính Lộc rủ rỉ ít nói. Mẹ tôi rất mến Lộc. Mẹ thường hay nêu Lộc để làm gương cho tôi. Mẹ làm tôi lắm khi tự ái. Mẹ nói là Lộc bé mà học giỏi, chăm, ngoan, lại nền nếp, cẩn thận… Có thể những điều trên mẹ tôi nói đúng, nhưng riêng cái điểm cẩn thận thì tôi không chịu. Tôi nghĩ rằng Lộc “ki bo” thì có. Cả lớp tôi chúng nó đều nhận xét thế. Lộc có cái cặp sách đã cũ mà cứ quý như vàng, không bao giờ vứt cặp xuống đất, không bao giờ dám ngồi lên cặp. Có cái bút máy Trường Sơn nét đã to bè, thế mà cứ viết viết, cất cất chi chút, chỉ dám viết cái bút ấy vào những buổi kiểm tra bài, còn ngày thường thì Lộc viết bút chấm mực. […]
Cuối học kì hai, Lộc báo cho tôi một tin chả vui gì:
- Bố tớ sắp mù hẳn rồi, Viện mắt người ta bảo phải mổ mới khỏi. Mấy hôm nữa bố tớ vào viện. Tớ phải làm thay cả phần việc của bố ở nhà để kiếm sống, lại còn phải chăm sóc bố nữa chứ. Chắc tớ chả tiếp tục học được nữa. – Lộc giúi vào tay tôi cái bút Trường Sơn: - Cậu cầm lấy cái này mà dùng, tớ giữ mà không dùng nó phí đi!
Lúc này giọng Lộc đã run run, không còn bình tĩnh như trước. Tôi nắm chặt tay Lộc và nói:
- Cậu cứ giữ lấy cái bút này. Cậu cần phải tiếp tục học. Tớ sẽ giúp cậu trong thời gian bố cậu vào viện. Sau giờ học ở trường, tớ sẽ về nhà cậu, chúng mình cùng học, cùng làm. Vả lại cái việc sửa dép cũng dễ thôi, cậu bảo tớ vài lần là tớ làm được. Mẹ tớ sẽ rất vui lòng nếu như tớ giúp được cậu. Mẹ tớ quý và thương cậu lắm.
(Bạn Lộc, Xuân Quỳnh, Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 10 năm 2021, tr.48-51)
Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra số từ trong câu “Vả lại cái việc sửa dép cũng dễ thôi, cậu bảo tớ vài lần là tớ làm được” và đặt một câu khác với số từ đó.
Câu 3. Trong đoạn trích, mẹ của nhân vật tôi nhận xétLộc là người như thế nào?
Câu 4. Xác định và nêu chức năng của thành phần trạng ngữ trong câu văn sau: Sau giờ học ở trường, tớ sẽ về nhà cậu, chúng mình cùng học, cùng làm.
Câu 5. Thông tin Lộc có cái cặp sách đã cũ mà cứ quý như vàng, không bao giờ vứt cặp xuống đất, không bao giờ dám ngồi lên cặp giúp em hiểu gì về Lộc?
Câu 6. Nhân vật tôi và Lộc đã có một tình bạn đẹp. Theo em, cần làm gì để có thể xây dựng được một tình bạn đẹp? Viết câu trả lời trong một đoạn văn ngắn (khoảng 3 – 5 câu).
Gợi ý làm bài
Câu 1: Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2: Số từ trong câu là “vài” (Đây là số từ chỉ số lượng không xác định).
Đặt câu: - Tôi đã đến Hạ Long vài lần rồi.
- Đã vài năm trôi qua, em Mi đã không còn là cô bé hay nhõng nhẽo như trước nữa.
Câu 3:
Trong đoạn trích, mẹ của nhân vật tôi nhận xétLộc bé mà học giỏi, chăm, ngoan, lại nền nếp, cẩn thận…
Câu 4:
Câu văn: Sau giờ học ở trường, tớ sẽ về nhà cậu, chúng mình cùng học, cùng làm.
- Thành phần trạng ngữ trong câu là: Sau giờ học ở trường
- Chức năng của trạng ngữ: bổ sung ý nghĩa về thời gian.
Câu 5:
- Thông tin “Lộc có cái cặp sách đã cũ mà cứ quý như vàng, không bao giờ vứt cặp xuống đất, không bao giờ dám ngồi lên cặp” giúp em Lộc là cậu bé có tính cách cẩn thận, nền nếp, biết quý trọng những đồ dùng học tập.
Câu 6. HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài
- Hình thức: đảm bảo dung lượng số dòng, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành;
- Nội dung: Cần làm gì để có thể xây dựng được một tình bạn đẹp?
+ Cần lắng nghe, tôn trọng bạn và dành thời gian để vun đắp tình bạn.
+ Biết an ủi, chia sẻ, giúp đỡ khi bạn gặp khó khăn; biết tha thứ những lỗi lầm của nhau.
+ Góp ý chân thành khi bạn mắc khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ.
+ Đối xử với nhau chân thành, thân ái, có thiện ý, biết hi sinh cho nhau; không tính toán, vụ lợi.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
MIẾNG BÁNH MÌ CHÁY
Khi tôi lên 8 hay 9 tuổi gì đó, tôi nhớ thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn nướng bánh mì cháy khét. Một tối nọ, mẹ tôi về nhà sau một ngày làm việc dài và bà làm bữa tối cho cha con tôi. Bà dọn ra bàn vài lát bánh mì nướng cháy, không phải cháy xém bình thường mà cháy đen như than. Tôi ngồi nhìn những lát bánh mì và đợi xem có ai nhận ra điều bất thường của chúng và lên tiếng hay không. Nhưng cha tôi chỉ ăn miếng bánh của ông và hỏi tôi về bài tập cũng như những việc ở trường học như mọi hôm. Tôi không còn nhớ tôi đã nói gì với ông hôm đó, nhưng tôi nhớ đã nghe mẹ tôi xin lỗi ông vì đã làm cháy bánh mì.
Và tôi không bao giờ quên được những gì cha tôi nói với mẹ tôi: “Em à, anh thích bánh mì cháy mà.”
Đêm đó, tôi đến bên chúc cha tôi ngủ ngon và hỏi có phải thực sự ông thích bánh mì cháy. Cha tôi khoác tay qua vai tôi và nói:“Mẹ con đã làm việc rất vất vả cả ngày và mẹ rất mệt. Một lát bánh mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, nhưng con biết điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác không? Những lời chê bai trách móc cay nghiệt đấy.”
Rồi ông nói tiếp: “Con biết đó, cuộc đời đầy rẫy những thứ không hoàn hảo và những con người không toàn vẹn. Cha cũng khá tệ trong rất nhiều việc, chẳng hạn như cha chẳng thể nhớ được sinh nhật hay ngày kỷ niệm như một số người khác. Điều mà cha học được qua nhiều năm tháng, đó là học cách chấp nhận sai sót của người khác và chọn cách ủng hộ những khác biệt của họ. Đó là chìa khóa quan trọng nhất để tạo nên một mối quan hệ lành mạnh, trưởng thành và bền vững con ạ.
Cuộc đời rất ngắn ngủi để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu. Hãy yêu quý những người cư xử tốt với con, và hãy cảm thông với những người chưa làm được điều đó.”
(Theo Quà tặng cuộc sống)
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.
Câu 2. Theo em, vì sao người cha lại nói với vợ:“Em à, anh thích bánh mì cháy mà.”
Câu 3. Qua câu nói sau, người cha muốn nhắn nhủ con điều gì?
“Mẹ con đã làm việc rất vất vả cả ngày và mẹ rất mệt. Một lát bánh mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, nhưng con biết điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác không? Những lời chê bai trách móc cay nghiệt đấy.”
Câu 4. Em hãy rút cho cho mình thông điệp ý nghĩa nhất qua câu chuyện trên.
Gợi ý làm bài
Câu 1: Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2:
- Người cha nói vậy vì ông biết người vợ làm việc cả ngày rất mệt mỏi nên không thể chuẩn bị bữa tối tốt cho gia đình.
- Người cha đã đặt mình vào hoàn cảnh của vợ để thông cảm cho những điều chưa hoàn hào của vợ.
Câu 3: Ý nghĩa của câu nói: những lời chê bai, trách móc sẽ để lại những tổn thương rất lớn cho con người, vì vậy, hãy tha thứ cho nhau khi có thể.
Câu 4: Học sinh có thể tuỳ chọn một trong các thông điệp của câu chuyện:
- Tình thương yêu trong gia đình;
- Sự tha thứ, lòng cảm thông;
- Cách chấp nhận những khiếm khuyết của người khác;
2
Thơ bốn chữ, năm chữ
I. CỦNG CỐ TRI THỨC ĐỌC HIỂU
1. Thể thơ bốn chữ
a)Đặc điểm nhận biết:
+ Mỗi dòng thơ gồm bốn chữ.
+ Không hạn chế về số dòng trong mỗi khổ, số khổ trong mỗi bài.
b)Cách gieo vần
+ Vần được đặt ở cuối mỗi dòng thơ => vần chân.
+ Có thể được gieo liên tiếp hai câu thơ liền nhau => vần liền
+ Vần có thể được gieo cách một hoặc hai dòng thơ => vần cách
+ Vần được đặt ở cuối mỗi dòng thơ => vần chân
+ Vần được gieo ở giữa dòng thơ, tiếng cuối của dòng trên vần với tiếng giữa của dòng dưới => vần lưng
=> Vần hỗn hợp
c)Nhịp thơ: Thơ bốn chữ thường ngắt nhịp: 2/2; 1/3 hoặc 3/1) =>Cách ngắt nhịp linh hoạt.
2. Thể thơ năm chữ
a)Đặc điểm nhận biết:
+ Mỗi dòng thơ gồm năm chữ.
+ Không hạn chế về số dòng trong mỗi khổ, số khổ trong mỗi bài.
b)Cách gieo vần
+ Vần được đặt ở cuối mỗi dòng thơ => vần chân.
+ Có thể được gieo liên tiếp hai câu thơ liền nhau => vần liền
+ Vần có thể được gieo cách một hoặc hai dòng thơ => vần cách
+ Vần được đặt ở cuối mỗi dòng thơ => vần chân( quốc- thuộc)
+ Vần được gieo ở giữa dòng thơ, tiếng cuối của dòng trên vần với tiếng giữa của dòng dưới => vần lưng(bà- gà)
=> Vần hỗn hợp
c)Nhịp thơ: Thơ năm chữ thường ngắt nhịp: 2/3; 3/2 hoặc 1/4 => Cách ngắt nhịp linh hoạt
Điểm giống nhau giữa thơ bốn chữ năm chữ?
+ Đều là những thể thơ gần gũi, nhất là với trẻ thơ vì các thể thơ này thường được sử dụng trong các bài đồng dao, bài vè.
+ Sử dụng hình ảnh thơ gần gũi, dung dị, thích hợp với việc kể chuyện.
Vai trò của vần và nhịp trong thơ là gì?
+ Vần có vai trò liên kết các câu thơ và khổ thơ, đánh dấu nhịp thơ, tạo nhịp điệu, sự hài hòa, sức âm vang cho thơ, đồng thời làm cho câu thơ dễ nhớ, dễ thuộc.
+ Nhịp thơ có tác dụng tạo tiết tấu làm nên nhạc điệu của bài thơ, đồng thời cũng góp phần biểu đạt nội dung thơ.
II. LUYỆN TẬP
BÀI TẬP: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 8
Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng me tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.
(Nắng mới, Lưu Trọng Lư, Theo Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 1994
Câu 1: Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Chỉ ra những câu thơ miêu tả hình ảnh người mẹ?
Câu 3: Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu: Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội? Tác dụng của biện pháp đó?
Câu 4:Câu Nét cười đen nhánh sau tay áo trong đoạn thơ gợi lên điều gì?
Lời giải
Câu 1: Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ bảy chữ.
Câu 2: Những câu thơ miêu tả hình ảnh người mẹ:
- Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
- Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa
Câu 3: - Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội: Nhân hóa.
- Tác dụng: Hình ảnh nắng mới cất tiếng reo vui miêu tả một không gian sinh động, rực rỡ, vui tươi; qua đó thấy được sự náo nức, thiết tha trong nỗi nhớ của tác giả.
Câu 4: Câu thơ Nét cười đen nhánh sau tay áo là một bức họa đẹp chứa đầy sức gợi - hình ảnh người mẹ vừa lấp lánh tỏa sáng, vừa e ấp, kín đáo trong nụ cười tươi tắn, hiền hậu, mang nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.
BÀI TẬP: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Nắng mới
(Lưu Trọng Lư)
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi,
Hình dáng me tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước dậu thưa
(Theo Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân, NXB Văn học, 1999, tr.288)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2. Điều gì đã gợi hứng khiến thi nhân nhớ về người mẹ của mình?
Câu 3. Hình ảnh nét cười đen nhánh gợi ấn tượng nào của nhân vật trữ tình về người mẹ?
Câu 4. Kỉ niệm riêng của Lưu Trọng Lư gợi trong anh/chị xúc cảm gì về một người thân yêu nhất của mình?
GỢI Ý
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ là biểu cảm.
Câu 2. “Nắng mới” và tiếng gà trưa (ở thời điểm hiện tại) là điểm gợi hứng khiến thi nhân nhớ về người mẹ của mình.
Câu 3. Hình ảnh nét cười đen nhánh gợi ấn tượng sâu sắc trong nhân vật trữ tình về người mẹ với nét cười (không phải “nụ cười”) tươi duyên, sáng ánh trưa hè, khoe hàm răng nhuộm đen bóng, đều tăm tắp như hạt na.
Câu 4. Thí sinh bày tỏ tình cảm chân thành, sâu sắc về một người thân yêu nhất của mình.
BÀI TẬP: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi,
Hình dáng me tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra;
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Nắng mới – Lưu Trọng Lư, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học)
Câu 1: Trong đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào?
Câu 2: Theo tác giả, yếu tố nào của ngoại cảnh đã khơi gợi dòng hồi tưởng về mẹ?
Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn thơ?
Câu 4: Nhận xét của em về mối quan hệ giữa nắng mới và me tôi trong bài thơ?
GỢI Ý
Câu 1: Trong đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, yếu tố ngoại cảnh đã khơi gợi dòng hồi tưởng về mẹ đó chính là sự xuất hiện của nắng mới và tiếng gà trưa gáy não nùng.
Câu 3: Nội dung chính của đoạn thơ: Những dòng hồi tưởng đẹp, đầy xúc động về mẹ, qua đó thể hiện tình yêu mẹ của tác giả
Câu 4: Mối quan hệ giữa nắng mới và me tôi trong bài thơ: Nắng mới là hình ảnh gắn liền với những kí ức về mẹ, gần gũi, thân thuộc, dường như là hình ảnh tượng trưng cho mẹ nên mỗi lần nhìn thấy nắng mới, tác giả đều liên tưởng tới mẹ của mình.
BÀI TẬP: Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi:
Nắng Ba Đình mùa thu
Thắm vàng trên lăng Bác
Vẫn trong vắt bầu trời
Ngày tuyên ngôn Độc lập.
Ta đi trên quảng trường
Bâng khuâng như vẫn thấy
Nắng reo trên lễ đài
Có bàn tay Bác vẫy.
Ấm lòng ta biết mấy
Ánh mắt Bác nheo cười
Lồng lộng một vòm trời
Sau mái đầu của Bác...
(Nắng Ba Đình – Nguyễn Phan Hách)
Câu 1: Văn bản trên được trình bày theo các phương thức biểu đạt nào?
Câu 2: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ và cho biết hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ:
onthicaptoc.com Tai lieu on he Van 7 len 8
PHẦN ĐỌC HIỂU
PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
ÔN TẬP
TIẾNG NÓI VẠN VẬT
VĂN BẢN 1: LỜI CỦA CÂY
(Trần Hữu Thung)
Môn: Ngữ văn 7 - Năm học: 2023– 2024
(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề)
ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Ôn tập cơ bản và nâng cao về đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại toàn bộ các thể loại HS được học trong chương trình Ngữ văn lớp 7 gồm:
ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: